Tin tổng hợp – 13/07/2020

Tin tổng hợp – 13/07/2020

Học Bổng Bán Phần Bậc Cử Nhân Và Thạc Sĩ Chuyên Ngành Luật Tại Trường Đại Học Melbourne, Úc 2020

Đại học Melbourne, Úc hiện đang có nhiều cơ hội học bổng hấp dẫn thông qua chương trình học bổng quốc tế Philip Solomon QC. Học bổng dành cho cả học sinh trong nước lẫn học sinh quốc tế. Học bổng nhằm hỗ trợ những ứng viên có thành tích xuất sắc mong muốn học cử nhân hoặc thạc sĩ tại trường năm học 2020 / 2021. Thành lập vào năm 1853, đại học Melbourne là trường nghiên cứu công lập lâu đời thứ hai tại Úc và sở hữu hơn 13.000 sinh viên quốc tế đến từ hơn 130 quốc gia trên thế giới. Trường cung cấp nhiều chương trình cử nhân, thạc sĩ và các chương trình nghiên cứu chuyên sâu. Đại học Melbourne sẽ tài trợ đến $5.000 cho học sinh bản xứ cũng như học sinh quốc tế theo học chuyên ngành Luật, pháp lý và các chương trình tội phạm học tại trường.
Chi tiết >>

Học Bổng Toàn Phần Chính Phủ Bậc Cử Nhân, Thạc Sĩ Tại Các Trường Đại Học Thuỵ Điển 2021

Chương trình học bổng chính phủ Thụy Điển dành cho học sinh quốc tế học kỳ mùa xuân 2021 hiện đang tuyển học sinh. Đây là cơ hội tuyệt vời cho các bạn ứng viên muốn theo học chương trình cử nhân hoặc thạc sĩ tại Thụy Điển. Học bổng có ở tất cả các trường đại học cũng như học viên tại Thụy Điển dưới nhiều hình thức khác nhau. Ứng viên có thể đăng ký theo học bất kỳ ngành học hay chương trình nào cung cấp bởi các trường đại học tại Thụy Điển. Hiện tại, có rất nhiều chương trình học giảng dạy bằng tiếng Anh để học sinh lựa chọn. Giá trị học bổng sẽ linh hoạt tùy thuộc vào trường cũng như ngành học mà em chọn. 
Chi tiết >>

Học Bổng Bậc Cử Nhân Tại Đại Học Illinois Wesleyan, Mỹ 2020 ($16.000 – $30.000/ Năm)

Đại học Illinois Wesleyan, Mỹ hiện đang có chương trình học bổng tài năng (merit-based scholarships) dành cho những ứng viên quốc tế có thành tích học tập nổi bật cũng như đáp ứng được các yêu cầu điểm thi chuẩn hóa đầu vào của trường. Học bổng có giá trị dao động từ $16.000 đến $30.000 mỗi năm và có thể gia hạn tối đa 4 năm học. Ứng viên hoàn tất quá trình nộp hồ sơ vào trường sẽ tự động được cân nhắc xét tuyển học bổng. Để tham gia giành học bổng, ứng viên phải đăng ký theo học một chương trình cử nhân bất kỳ tại trường.  Được thành lập vào năm 1850, đại học Illinois Wesleyan là một trường nghiên cứu công lập cung cấp hơn 80 ngành học và chương trình học ở mọi cấp bậc. Trường có nhiều cơ sở chủ trương theo lối giáo dục khai phóng (Liberal Arts) với 17 chuyên ngành học thuật. 
Chi tiết >>

Tìm hiểu các thuật ngữ viết tắt phổ biến trong hệ thống giáo dục Anh, Mỹ (phần 2)

Tìm hiểu các thuật ngữ viết tắt phổ biến trong hệ thống giáo dục Anh, Mỹ (phần 2)

Tiếp tục bài viết trước về Các thuật ngữ viết tắt phổ biến trong hệ thống giáo dục Anh, Mỹ, tuần này, Everest Education tiếp tục giới thiệu đến với quý phụ huynh một số thuật ngữ chỉ các chương trình học, chứng chỉ và kỳ thi quốc tế như GCSE, AP, IB, O-Levels và A-Levels.

Chương trình IB, A-Level và AP là những chương trình quốc tế danh giá dành cho học sinh cấp 3 và được đánh giá cao về mức độ học thuật. Nếu có ý định cho con đi du học, phụ huynh có lẽ đã từng nghe qua các thuật ngữ này, đồng thời không khỏi có nhiều thắc mắc: Chương trình nào là phù hợp nhất với khả năng, sở thích của con cũng như lộ trình của gia đình? Chương trình nào có khả năng giúp con vào được các trường đại học hàng đầu thế giới?

Bài viết dưới đây sẽ tiếp tục giải thích cho phụ huynh về những chương trình học danh giá này, sự khác biệt giữa các loại bằng cấp, ưu điểm và nhược điểm của từng chương trình, để giúp gia đình cân nhắc và quyết định được đâu là lựa chọn phù hợp nhất đưa con vào đại học sau này.

GCSEs và IGCSE

GCSE là viết tắt của General Certificate of Secondary Education (Chứng chỉ Giáo dục Trung học).  Đây là một bộ kỳ thi được thực hiện ở Anh, xứ Wales, Bắc Ireland và các vùng lãnh thổ khác thuộc Anh quốc. GCSE là chương trình thay thế cho chương trình O-Level (Chứng chỉ bậc phổ thông) và CSE (Certificate of Secondary Education – Chứng chỉ Giáo dục Trung học). IGCSE và GCSE là những chứng chỉ có giá trị tương đương. Cả hai đều được thiết kế để kiểm tra trình độ của học sinh sau khi các em hoàn thành Year 10 và Year 11 (tương đương lớp 9 và lớp 10 tại Việt Nam) theo chương trình giảng dạy của Anh.

IGCSE là chứng chỉ quốc tế được công nhận rộng rãi, được thành lập vào năm 1988. Chữ “I” trong IGCSE xuất phát từ chữ “International” – quốc tế. Đây là chương trình phù hợp cho những em lựa chọn theo đuổi giáo dục quốc tế, chẳng hạn như những em học sinh đang học theo hình thức giáo dục tại gia (homeschooling), có thể học tại bất cứ đâu trên thế giới. Tương ứng, học sinh cũng có thể tham gia thi IGCSE tại nhiều nơi trên thế giới. Tương tự như GCSE, IGCSE được đánh giá có mức độ khó cao về mặt học thuật, và hiện đã được hơn 300 trường tư tại Anh áp dụng giảng dạy. IGCSE hiện được nhiều trường đại học trên thế giới chấp nhận làm cơ sở để xét tuyển đầu vào.

  • Mặc dù có giá trị tương đương, IGCSE và GCSE vẫn có một số điểm khác biệt”

    • Chứng chỉ GCSE hầu như chỉ có thể thi ở Anh, trong khi đó, IGCSE lại phổ biến hơn và có thể thi ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng như Anh quốc.
    • Kỳ thi GCSE được ấn định vào tháng 5/ 6 mỗi năm, trong khi đó, thí sinh quốc tế có thể thi IGCSE vào tháng 10/ 11, và tháng 3 nếu ở Ấn Độ.

O-Levels

 O-Level là viết tắt từ Ordinary Level (Chứng chỉ Giáo dục Phổ thông Bậc phổ thông). Đây là một trong hai phần thuộc Chứng chỉ Giáo dục Trung học (GCE). Phần còn lại của GCE chính là A-Level (Chứng chỉ Giáo dục phổ thông Bậc cao), là chương trình học sinh sẽ theo học sau khi hoàn thành O-Level.

O-Level là chứng chỉ cuối cùng dành cho học sinh cấp 2 tại Anh, thường được thi vào Year 11 (lớp 10) khi học sinh tầm 17 tuổi (hoặc rơi vào khoảng 14-16 tuổi). Học sinh đã hoàn thành O-Level được xem là đã hoàn thành giáo dục căn bản. Các em có thể lựa chọn học tiếp A-Level (tại các trường cao đẳng hoặc đại học tư), học dự bị đại học (Foundation Courses) hoặc học thêm văn bằng (Diploma courses), hoặc thậm chí quyết định thôi học để đi làm.

Kỳ thi O-Level được tổ chức bởi hội đồng thi Cambridge International Examination (CIE), Hội đồng Mỹ cho giáo dục bậc cao (American Council for Higher Education) và Edexcel International. Mặc dù các trường tại Anh đã thay thế kỳ thi O-Level bằng GCSE vào năm 1988, kỳ thi này vẫn được sử dụng bởi các quốc gia thuộc khối Thịnh vượng chung (Commonwealth), như Bangladesh, Brunei, Malaysia, Malta, Mauritius, Pakistan, Singapore, Sri Lanka hay thậm chí ở Trinidad và Tobago.

A-Levels

A-level, viết tắt của Advanced levels, là chương trình giảng dạy quốc gia của Anh, được thiết kế để tiếp nối lộ trình học Chứng chỉ giáo dục Trung học (General Certificate of Secondary Education – GCSE) tại Anh. Học sinh thường sẽ học từ 3 đến 4 môn học, và mất 2 năm để theo học chương trình này trong giai đoạn từ 16 đến 18 tuổi. A-level là một chương trình học kéo dài 2 năm, năm đầu tiên được gọi là AS (Advanced Subsidiary – AS), năm thứ hai được gọi là năm A2.

Chương trình A-level có đến 55 môn học khác nhau và các trường có thể lựa chọn giảng dạy kết hợp một số môn học. Chương trình A-level là chương trình học quốc tế được cung cấp bởi Cambridge International Examinations, tuy nhiên giáo viên có thể linh hoạt lựa chọn cách truyền đạt phù hợp. 

Nếu gia đình đã chắc chắn muốn cho con du học Anh, A-level sẽ là một lựa chọn hợp lí bởi đây là chứng chỉ trung học truyền thống của quốc gia này. A-level cũng sẽ là một lựa chọn tuyệt vời dành cho những em học sinh đã hiểu rõ bản thân mình giỏi những môn học nào, em muốn theo đuổi ngành học nào trong tương lai. A-level sẽ cho phép em có thời gian được tập trung học 3 hoặc 4 môn học phù hợp với định hướng của mình, và toàn tâm toàn lực học hết sức cho những môn học này.

Quan trọng hơn, đối với A-level, học sinh sẽ nhận được chứng chỉ riêng biệt cho từng môn học mà em đã hoàn thành, thay vì chỉ một chứng chỉ chung duy nhất như chương trình Tú tài Quốc tế IB.


AP

AP, viết tắt từ Advanced Placement, là chương trình học tại Mỹ và Canada được thiết kế bởi College Board – tổ chức chuyên cung cấp các chương trình giảng dạy bậc đại học và các kì thi cho học sinh trung học. Tương tự như SAT có các kì thi cho từng môn học, chương trình AP cũng bao gồm nhiều bài thi cho nhiều môn học khác nhau, từ Sinh học, Lịch sử Châu Âu cho đến Lý thuyết Âm nhạc. Hiện nay có đến khoảng 38 môn thi AP khác nhau, mặc dù rất ít trường có đủ tất cả các lớp AP cho tất cả các môn học.

Học sinh theo học chương trình AP thường sẽ học khoảng 3 đến 4 khóa mỗi năm, năm cuối cùng có thể học đến 7 khóa AP khác nhau. Mỗi khóa học được phát triển bởi một đội ngũ giáo viên dạy AP và giảng viên đại học, nhằm cố gắng lồng ghép những kiến thức, kỹ năng, thông tin, bài tập phù hợp để học sinh có thể ứng dụng khi học tiếp môn học đó khi lên đại học.  AP là chương trình được thành lập với mục đích chuẩn bị cho học sinh những kiến thức và kỹ năng bậc đại học ngay từ khi các em còn học trung học, kèm theo bài kiểm tra năng lực cuối khóa, chấm trên thang điểm từ 1 đến 5. Các trường đại học Mỹ thường sẽ cho phép học sinh quy đổi tín chỉ cho các môn thi AP tương ứng khi lên đại học, với điều kiện môn đó học sinh phải đạt được từ 3 điểm trở lên.

Hầu hết các trường đại học tại Mỹ và Canada đều chấp nhận kết quả thi AP khi xét tuyển, cũng như nhiều trường đại học quốc tế khác trên thế giới. AP sẽ là một lựa chọn đúng đắn nếu như con không có nhiều thời gian để theo học các chứng chỉ quốc tế: không giống như kì thi IB đòi hỏi học sinh phải có thời gian tham gia hoạt động ngoại khóa, AP chỉ đơn thuần là một chương trình học. 

Một điểm khác đáng để cân nhắc là, tương tự với kì thi A-level, học sinh có thể tham gia thi AP mà không nhất thiết phải đăng ký theo học một lớp AP cụ thể. Nếu học sinh muốn theo học một ngôn ngữ khác mà trường em không có lớp dạy, hoặc em muốn tự học một môn học nào đó hơi đặc biệt một chút, như Lịch sử nghệ thuật chẳng hạn, kì thi AP sẽ linh hoạt hơn và cho em nhiều lựa chọn hơn.


IB

IB, viết tắt từ International Baccalaureate – Bằng Tú tài Quốc tế (IBDP) là chương trình có tiền thân từ Geneva, Thụy Điển tại năm 1968, với mục tiêu đào tạo những sinh viên tài năng có trình độ quốc tế ngay từ bậc tiểu học, những em học sinh có cha mẹ làm việc cho các tổ chức quốc tế, bộ ngoại giao hoặc các công ty đa quốc gia. Đây là chương trình đánh giá năng lực dành cho học sinh độ tuổi từ 16 đến 19 tuổi. IBDP được công nhận rộng rãi bởi nhiều trường đại học trên toàn cầu

 

Ở chương trình IB, học sinh phải chọn học 3 môn thuộc trình độ Nâng cao (High Level) và 3 môn ở trình độ cơ bản (Standard Level) trong 6 lĩnh vực cốt lõi bắt buộc: Ngôn ngữ & Văn học (Language & Literature), Tiếp thu Ngôn ngữ (Language Acquisition), Khoa học (Sciences), Toán (Maths), Khoa học Xã hội (Social Sciences), và Nghệ thuật (Arts).

Ngoài ra, học sinh còn phải hoàn thành các học phần bổ sung, bao gồm Lý thuyết Kiến thức (Theory of Knowledge – TOK), nhằm phát triển kỹ năng tư duy phản biện, đồng thời tham gia các hoạt động dịch vụ cộng đồng, thể thao hoặc sáng tạo ít nhất 3 giờ thuộc học phần Sáng tạo, Hành động và Phục vụ (Creativity, Action, Service – CAS) module. Học sinh cũng buộc phải hoàn thành khóa Viết luận Chuyên sâu (Extended Essay), một bài nghiên cứu độc lập 4.000 chữ về một chủ đề mà các em tự chọn. Chương trình IB được đánh giá là một chương trình giáo dục toàn diện dành cho học sinh.

Chương trình Tú tài quốc tế cung cấp một nền tảng giáo dục toàn diện. Do đó, chương trình thích hợp với những em học sinh có hứng thú học nhiều môn học khác nhau, nhưng lại chưa quyết định được ngành học cụ thể em muốn theo đuổi trong tương lai.

Phần bài luận và Lý thuyết Kiến thức trong chương trình IB cũng giúp xây dựng nền tảng tốt cho học sinh, giúp các em phát triển kỹ năng tư duy phản biện và nghiên cứu độc lập để thành công trong môi trường đại học sau này.

Tạm kết

Chỉ cha mẹ và bản thân học sinh mới có thể tự quyết định được chương trình học nào, đi theo lộ trình nào là phù hợp nhất với định hướng học tập của con. Dù có lựa chọn lộ trình nào, phụ huynh cũng nên nhớ rằng khi tuyển sinh, những trường đại học hàng đầu sẽ quan tâm hơn đến việc học sinh có dám lựa chọn “đường khó” để đi – lựa chọn chương trình thử thách năng lực của em khi học cấp 3 hay không: chương trình học đó cụ thể là gì thực chất không quan trọng bằng.

Trên trang tuyển sinh của Đại học Yale, nhà trường cũng thể hiện rõ rằng học sinh chỉ nên học AP hoặc IB nếu trường trung học của em có dạy các chương trình này. Trang thông tin từ Đại học Princeton cũng đưa ra lời khuyên tương tự: “Bất cứ khi nào, hãy thử thách bản thân các em bằng những chương trình học khó nhất nếu có thể, dù là chương trình Danh dự (Honors), AP hay các khóa học kép. Chúng tôi đánh giá kết quả thi IB, A-Levels hay bất kỳ chứng chỉ nào khác dựa vào nội dung đào tạo của chương trình đó.” Vì vậy, điều quan trọng nhất đối với các nhà tuyển sinh đại học, đó là học sinh liệu có cố gắng hết sức tận dụng những cơ hội học thuật mà trường của em cung cấp hay không.

Tin tổng hợp – 06/07/2020

Tin tổng hợp – 06/07/2020

Học Bổng Bán Phần Bậc Cử Nhân Tại Trường Schule Schloss Salem, Đức 2020

Trường Schule Schloss Salem, một trong những trường nội trú nổi tiếng  hàng đầu tại Salem và Überlingen, Đức, hiện đang trao nhiều suất học bổng cử nhân cho học sinh quốc tế đang theo học chương trình Tú tài quốc tế (IB). Học bổng sẽ tài trợ một khoản hỗ trợ trị giá €6.000 mỗi năm, hoặc €500 mỗi tháng bất kể điều kiện tài chính và thu nhập của gia đình. Năm nay, trường dự định sẽ trao tối đa 50 suất học bổng. Ứng viên tham gia giành học bổng phải có thành tích học tập xuất sắc, có những đóng góp tích cực cho cộng đồng xung quanh cũng như sở hữu tài năng ở các lĩnh vực âm nhạc/ thể thao/ nghệ thuật. 
Chi tiết >>

Học Bổng Bán Phần Bậc Cử Nhân Tại Manhattanville College 2020 ($25.000/ Năm)

Đại học Manhattanville College là một trường đại học giáo dục khai phóng (liberal arts) tại New York được thành lập vào năm 1841. Trường được xếp hạng cao trong bảng xếp hạng các trường đại học, với hơn 120 chương trình học cho trình độ đại học và sau đại học. Manhattanville là một lựa chọn tốt cho học sinh học đại học, trường trang bị cho học sinh cả kiến thức và kỹ năng thực tế để chuẩn bị nghề nghiệp sau này, và luôn khuyến khích các em mạnh dạn khám phá  những lĩnh vực mới mẻ. Ứng viên xin học bổng phải đăng ký một chương trình cử nhân bất kỳ ngành học nào năm học 2020-2021 tại trường. Học bổng sẽ tài trợ $25.000 cho học sinh mỗi năm và có thể gia hạn tối đa 3 năm nếu các em duy trì được điểm GPA tối thiểu mà trường yêu cầu.
Chi tiết >>

Tìm hiểu các thuật ngữ viết tắt phổ biến trong hệ thống giáo dục Anh, Mỹ

Cha mẹ có biết sự khác biệt giữa các chương trình ESL và ELA, IELTS và TOEFL, hay SAT và ACT?

Khi bắt đầu tìm hiểu về hệ thống giáo dục cũng như các loại bằng cấp, chứng chỉ quốc tế, phụ huynh có lẽ đã từng bắt gặp nhiều thuật ngữ giáo dục, từ viết tắt đầy chữ cái rất “nhức đầu” như IB, AP, IGCSE…, đó là chưa kể đến một loạt các từ viết tắt của chương trình tiếng Anh Cambridge:  KET, PET, FCE, CAE, CPE… và một loạt các thuật ngữ khác.

Từ viết tắt được sử dụng rất nhiều trong hệ thống giáo dục quốc tế, mọi thứ từ mô tả chương trình học, các kỳ thi, giáo trình, các tổ chức giáo dục, điều luật và quy định…đều được viết tắt. Và cố gắng hiểu nghĩa được hết những từ này cũng giống như cha mẹ phải học thêm một ngôn ngữ mới, chìm đắm giữa nhiều thông tin, thuật ngữ, giáo trình và điều kiện cho từng chương trình. Dù vậy, đừng nản lòng, chúng tôi tin rằng phụ huynh vẫn nên dành thời gian tìm hiểu sự khác biệt giữa các chương trình học cũng như chứng chỉ, bằng cấp quốc tế, để có thể quyết định đâu là chương trình phù hợp nhất với khả năng của con và gia đình. Bên cạnh những từ thông dụng như SAT hay GPA mà ai cũng biết, E2 khuyến khích cha mẹ nên tìm hiểu thêm một vài thuật ngữ viết tắt hiện đang rất phổ biến trong hệ thống giáo dục quốc tế ngày nay.

Bài viết dưới đây sẽ cung cấp một danh sách giúp phụ huynh ghi nhớ và phân biệt một số thuật ngữ quốc tế thông dụng trong hệ thống giáo dục tại Anh và Mỹ.

IELTS và TOEFL

Nào, hãy cùng bắt đầu với hai từ dễ nhất, và phổ biến nhất – IELTS và TOEFL!

IELTS

IELTS là viết tắt của cụm từ International English Language Testing System (tạm dịch: Hệ thống Kiểm tra Tiếng Anh Quốc tế), đây là một kỳ thi dành cho người nói tiếng Anh không phải là người bản xứ. Kỳ thi IELTS có hai loại là IELTS General (tổng quát) và IELTS Academic (học thuật). Kỳ thi IELTS General thường dành cho những người muốn nhập cư vào các quốc gia nói tiếng Anh, đặc biệt là Anh và Úc. Kỳ thi IELTS Academic dành cho những đối tượng muốn học tại các trường đại học ở các nước nói tiếng Anh. Kỳ thi này thậm chí còn phổ biến hơn đối với các quốc gia bên ngoài nước Mỹ.

TOEFL

TOEFL, viết tắt từ Test of English as a Foreign Language, là kỳ thi kiểm tra năng lực tiếng Anh quốc tế dành cho những người mà tiếng Anh không là tiếng mẹ đẻ, và muốn học tại các trường đại học ở các nước nói tiếng Anh. Kỳ thi TOEFL tập trung đánh giá kỹ năng tiếng Anh học thuật. Đây là lựa chọn phổ biến đối với những người muốn đi học tại Mỹ, nhưng hầu hết các trường đại học ở mọi quốc gia trên thế giới đều chấp nhận chứng chỉ này.

 

Cả TOEFL và IELTS đều được chấp nhận rộng rãi bởi các trường đại học và cao học trên toàn thế giới. Nhìn chung, cấu trúc cũng như ngôn ngữ sử dụng trong TOEFL theo hướng học thuật hơn, trong khi IELTS lại có nội dung liên quan đến tình huống giao tiếp trong đời sống thực tế. TOEFL rất phổ biến đối với các trường đại học tại Mỹ, trong khi đó IELTS lại phổ biến hơn ở các quốc gia khác bên ngoài nước Mỹ dù hiện nay rất nhiều trường đã chấp nhận cả hai. Một số trường cụ thể có thể sẽ ưu tiên chứng chỉ này hơn chứng chỉ kia, vì vậy, học sinh nên tìm hiểu thật kỹ yêu cầu của trường mà em muốn nộp đơn vào.

SAT và ACT

Nếu bạn có con đang có dự định nộp đơn vào một trường đại học ở nước ngoài, con rất có thể sẽ cần bằng SAT hoặc ACT. SAT và ACT là hai kỳ thi chuẩn hóa được các trường đại học ở Mỹ dùng để đánh giá năng lực học sinh, đi kèm với điểm trung bình môn (GPA), hoạt động ngoại khóa, thư giới thiệu và viết luận.

SAT

Kỳ thi SAT, viết tắt từ chữ Scholastic Aptitude Test là kỳ thi có tuổi đời lớn hơn trong hai kỳ thi, được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1926. Có thể hiểu, kỳ thi SAT được dùng để  dự báo khả năng thành công của học sinh ở trường đại học vào năm đầu tiên. Kỳ thi gồm 2 phần, 1 phần kiểm tra kiến thức toán học, phần còn lại để kiểm tra các kỹ năng đọc viết, giao tiếp bằng lời.

ACT

ACT, viết tắt từ American College Testing, được giới thiệu lần đầu tiên vào  năm 1959. ACT là kỳ thi chuẩn hóa dùng để đánh giá xem một em học sinh trung học đã sẵn sàng theo học trình độ đại học hay chưa. Kỳ thi ACT có 4 phần chính: toán, đọc và khoa học. ACT kiểm tra kiến thức mà học sinh đã từng học trong những những năm trung học, đây hoàn toàn không phải là một bài kiểm tra tư duy.  

Dù có nhiều điểm khác biệt, SAT và ACT về cơ bản đều là những bài thi trắc nghiệm kiểm tra các kỹ năng đọc, viết, và toán học. Kỳ thi SAT đánh giá năng khiếu, khả năng học tập của học sinh, trong khi ACT lại có phần thực tế và sát sao hơn. ACT sẽ tập trung hỏi sâu những kiến thức mà học sinh đã học được ở trường.

>> Tìm hiểu những khác biệt lớn nhất giữa SAT và ACT: SAT vs ACT, học sinh nên chọn học gì?

ESL, EFL và ELA

Hàng ngàn trẻ em trên thế giới ngày nay đang học ESL – English as a Second Language (tạm dịch: Tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai), một số khác học EFL – English as a Foreign Language (tạm dịch: Tiếng Anh như ngôn ngữ nước ngoài), một số khác nữa thì học ELA – English Language Arts (Ngữ Văn Anh), vậy những từ này thực chất có nghĩa là gì?

ESL

ESL là viết tắt của English as a Second Language. Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi để chỉ những học sinh không phải là người bản xứ đang học tiếng Anh ở các quốc gia có tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ. Ví dụ, một em học sinh người Nhật đến London để học tiếng Anh, em có thể được coi là một học sinh ESL hay một người đang học chương trình ESL. Chương trình ESL dạy tiếng Anh cho học sinh như một phương tiện giao tiếp để có thể sử dụng và trao đổi thành thạo với những người ở khu vực mà em sinh sống.

EFL

EFL, viết tắt từ English as a Foreign Language (tiếng Anh như một ngôn ngữ nước ngoài), để chỉ những người học tiếng Anh ở các quốc gia mà tiếng Anh không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ. Ví dụ, một em học sinh ở Trung Quốc đang học tiếng Anh có thể được xem là một học sinh EFL, bởi vì tiếng Anh không phải là ngôn ngữ chính tại Trung Quốc. 

ELA

ELA là chương trình Ngữ Văn Anh, viết tắt từ English Language Arts, là chương trình tiếng Anh được giảng dạy ở các nước nói tiếng Anh. ELA tập trung phát triển mọi lĩnh vực của ngôn ngữ (bao gồm nghe, nói, đọc, viết, ngữ pháp, phát âm), và các lớp Ngữ Văn Anh sẽ dạy học sinh mọi kỹ năng liên quan đến tiếng Anh, từ văn học, ngữ pháp, đến cách làm thế nào để viết nên những bài luận tuyệt vời. Bạn có thể hình dung học sinh bản xứ học ELA cũng tương tự như học sinh Việt Nam học môn Ngữ văn ở trường – dù tiếng Việt đã là tiếng mẹ đẻ, các con vẫn cần học tiếng Việt để có thể sử dụng ngôn ngữ thật hiệu quả trong nhiều bối cảnh khác nhau và thành công khi đi học đại học, đi làm và trong cuộc sống sau này.

Hầu hết phụ huynh đều không ý thức được sự khác biệt giữa các chương trình Anh ngữ. Chúng ta có thể dễ dàng nhầm lẫn giữa các chương trình học và cho rằng chỉ cần học các lớp tiếng Anh giao tiếp, IELTS, hay TOEFL là đủ.

Ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy “Ngữ Văn Anh” vẫn còn là một khái niệm tương đối mới mẻ đối với hầu hết phụ huynh. Các lớp ESL cũng có phần hao hao các lớp ELA, bởi học sinh cũng được học đọc và viết bằng tiếng Anh. Tuy vậy, Ngữ Văn Anh vẫn là chương trình chuyên sâu hơn giúp học sinh khám phá mọi khía cạnh của tiếng Anh – là nền tảng đề các con có thể thành công khi theo học môi trường học thuật ở nước ngoài và cả trong cuộc sống sau này.

 

Vì vậy, ngay khi trẻ đã có thể sử dụng tiếng Anh giao tiếp thành thạo, chúng tôi khuyến khích phụ huynh hãy thử thách con bằng chương trình tiếng Anh dùng cho các bạn bản ngữ – chương trình Ngữ Văn Anh.

 

Các chứng chỉ tiếng Anh Cambridge: KET, PET, FCE, CAE và CPE

KET, PET, FCE chỉ những chứng chỉ tiếng Anh Cambridge dành học sinh trung học, sau khi các em hoàn thành chương trình Cambridge Young Learners English (YLE), bao gồm các trình độ Starter, Mover và Flyer – thường dành cho trẻ từ 6 đến 12 tuổi.

KET 

KET hay còn được biết đến là Key English Test (KET) hoặc Key English Test for Schools (KETfs). Đây là chứng chỉ chứng minh bạn có thể giao tiếp cơ bản bằng tiếng Anh trong những tình huống hằng ngày của cuộc sống. KET là một kỳ thi tương đương với trình độ tiểu học của người bản xứ, đánh giá khả năng sử dụng các cấu trúc ngôn ngữ cơ bản khi nói và viết. Nếu bạn có thể hiểu được những đoạn văn đơn giản, các câu ngắn và có thể giao tiếp được trong những tình huống quen thuộc – bạn có thể đăng ký lấy chứng chỉ KET.

Chứng chỉ KET, tương đương với trình độ A2 Cambridge sẽ cho phép bạn được làm việc tại một số quốc gia (ví dụ nhưng Đan Mạch hay Phần Lan) nơi mà bạn không nhất thiết phải có kỹ năng ngôn ngữ quá chuyên sâu.

PET

PET là viết tắt của Preliminary English Test (PET) hay Preliminary English Test for Schools (PETfs) – kiểm tra tiếng Anh sơ bộ. Đây là trình độ trung cấp cho thấy bạn có thể giao tiếp bằng tiếng Anh trong hầu hết mọi tình huống của cuộc sống hằng ngày. Đây là một nền tảng tốt nếu bạn muốn theo đuổi một bằng cấp chuyên môn bằng Tiếng Anh. Nếu bạn có thể đọc sách, báo đơn giản, viết thư hoặc thể hiện quan điểm của mình về một số vấn đề phổ biến bằng tiếng Anh, chứng chỉ PET sẽ là lựa chọn phù hợp.

  • Trình độ chuyên môn: PET = Bằng B1 theo Khung tham chiếu châu Âu (~IELTS 4 – 4.5 hoặc TOEFL iBT 57 – 86)

Bằng B1 Preliminary (PET) thích hợp với những người có dự định làm việc hoặc học tập ở nước ngoài. Chương trình PET cũng là nền tảng quan trọng chuẩn bị cho học sinh những kỹ năng để tham gia các kỳ thi có trình độ cao hơn.

 

FCE

 

FCE được gọi là Chứng chỉ tiếng Anh đầu tiên – First Certificate in English hoặc First Certificate in English for Schools (FCEfS). Đây là kỳ thi trình độ Trung cấp nâng cao chứng minh bạn có thể nói và viết tiếng Anh đủ tốt để có thể làm việc, học tập ở những môi trường giao tiếp bằng tiếng Anh hoàn toàn. Nếu trình độ tiếng Anh của bạn đủ tốt để sử dụng trong giao tiếp hằng ngày, trong công việc và trong giáo dục, vậy FCE sẽ là kỳ thi phù hợp với bạn.

  • Trình độ chuyên môn: FCE = Bằng B2 theo khung tham chiếu châu Âu (~IELTS 5 – 6.5 hoặc TOEFL iBT 87 – 109)

FCE là lựa chọn hoàn hảo cho những ai muốn làm việc tại môi trường doanh nghiệp sử dụng tiếng Anh hoàn toàn, sống ở một quốc gia nói tiếng Anh hoặc học các khóa học trình độ căn bản hay dự bị đại học dạy bằng tiếng Anh.

CAE

CAE còn được biết đến là Cambridge Advanced Certificate in English (Chứng chỉ tiếng Anh Cambridge nâng cao). Đây là chứng chỉ chứng minh rằng tiếng Anh của bạn đã đáp ứng được tiêu chuẩn tiếng Anh nhất định tương đương với doanh nhân hoặc sinh viên đại học.

  • Trình độ chuyên môn: CAE = Bằng C1 theo khung tham chiếu châu Âu (~IELTS 7 – 8 hoặc TOEFL iBT 110 – 120)

CAE dành cho học sinh hoặc người lớn muốn chứng minh với nhà tuyển dụng hoặc trường đại học khả năng giao tiếp tiếng Anh tự tin của mình trong môi trường học thuật chuyên sâu hoặc làm việc chuyên nghiệp.

CPE

CPE là viết tắt của Cambridge Certificate of Proficiency in English – Chứng chỉ tiếng Anh Cambridge trình độ chuyên môn. Đây là chứng chỉ cho thấy bạn đã hoàn toàn sử dụng tiếng Anh thành thạo, trôi chảy và lưu loát khi cần phải nghiên cứu, sử dụng ngôn ngữ trong môi trường học thuật và doanh nghiệp. Đây là chứng chỉ Cambridge có trình độ cao nhất.

  • Trình độ chuyên môn: CPE = Bằng C2 theo khung tham chiếu châu Âu (~IELTS 8.5 – 9)

Chứng chỉ CPE thích hợp với những người có dự định làm việc trình độ cấp cao hoặc quản lý bằng tiếng Anh, hoặc những người có dự định học thạc sĩ, tiến sĩ tại các trường đại học có tiếng Anh là ngôn ngữ chính.

 

Mặc dù cả IELTS và các kỳ thi Cambridge đều đánh giá năng lực tiếng Anh ở các 4 lĩnh vực nghe, nói, đọc, viết, vẫn có một vài điểm khác biệt giữa các kỳ thi này.
Điểm khác biệt lớn nhất giữa các kỳ thi Cambridge so với IELTS là IELTS chỉ có một kỳ thi duy nhất cho mọi trình độ, còn Cambridge lại chia thành nhiều kỳ thi riêng cho mỗi một trình độ nhất định. Chứng chỉ như CAE thường chỉ nhắm đến những người trình độ tiếng Anh nâng cao, rơi vào trong khoảng từ bằng B2 đến C2. Trong khi đó, điểm thi TOEFL hay IELTS sẽ có giá trị tương đương trình độ khoảng từ A1 đến C2. Vì vậy, những người mới học tiếng Anh hoặc có trình độ tiếng Anh trung cấp không nên thi CAE.
Một điểm khác cũng đáng để cân nhắc là bằng IELTS và TOEFL chỉ có giá trị tối đa 2 năm kể từ ngày thi, trong khi đó các chứng chỉ Cambridge đều có thời hạn vĩnh viễn, nhờ vậy, bạn sẽ có nhiều thời gian hơn để theo đuổi mục tiêu học tập hay công việc của mình.
Để tìm hiểu thêm thông tin chi tiết, phụ huynh có thể tham khảo thêm tại website của Cambridge: www.cambridgeenglish.org


(còn tiếp…)

 

Tin tổng hợp – 29/06/2020

Tin tổng hợp – 29/06/2020

Học Bổng Bán Phần Bậc Cử Nhân Tại Trường Schule Schloss Salem, Đức 2020

Trường Schule Schloss Salem, một trong những trường nội trú nổi tiếng  hàng đầu tại Salem và Überlingen, Đức, hiện đang trao nhiều suất học bổng cử nhân cho học sinh quốc tế đang theo học chương trình Tú tài quốc tế (IB). Học bổng sẽ tài trợ một khoản hỗ trợ trị giá €6.000 mỗi năm, hoặc €500 mỗi tháng bất kể điều kiện tài chính và thu nhập của gia đình. Năm nay, trường dự định sẽ trao tối đa 50 suất học bổng. Ứng viên tham gia giành học bổng phải có thành tích học tập xuất sắc, có những đóng góp tích cực cho cộng đồng xung quanh cũng như sở hữu tài năng ở các lĩnh vực âm nhạc/ thể thao/ nghệ thuật. 
Chi tiết >>

Học Bổng Bán Phần Bậc Cử Nhân Tại Đại Học Newcastle, Úc 2020 ($20.000)

Đại học Newcastle, Úc hiện đang trao nhiều suất học bổng chương trình cử nhân cho học sinh quốc tế theo học các chuyên ngành Kỹ sư và Xây dựng môi trường. Học bổng trị giá tối đa $AUD 2.500 mỗi học kỳ, được chia đều trao theo nhiều kỳ kéo dài suốt chương trình học cử nhân của học sinh với điều kiện em đáp ứng được một số yêu cầu tối thiểu của học bổng. Học bổng sẽ được khấu trừ thẳng vào học phí mỗi kỳ, nhằm giảm bớt trách nhiệm đóng học phí cho học sinh. Đại học Newcastle là một trường đại học công lập của Úc. Trường là thành viên của Hiệp hội các trường Đại học Kinh doanh Tiên tiến (Association to Advance Collegiate Schools of Business và các trường đại học của Úc. Trường cung cấp các lớp học trực tuyến, trực tiếp hoặc kết hợp cả hai, với các cơ sở nằm tại Callaghan, Ourimbah, Port Macquarie, Singapore, và khu vực trung tâm của Sydney. 
Chi tiết >>

Học Bổng Toàn Phần Chính Phủ Bậc Cử Nhân, Thạc Sĩ, Tiến Sĩ Tại Đại Học Châu Á Thái Bình Dương (APU), Nhật Bản 2020

Đại học Châu Á Thái Bình Dương Ritsumeikan Asia Pacific University (APU), Nhật Bản hiện đang mở chương trình học bổng MEXT APU Scholarship – khuyến khích học sinh quốc tế có thành tích  xuất sắc theo học tại trường. Học bổng được tài trợ bởi bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (Japanese Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology – MEXT) với mục tiêu nâng cao cạnh tranh quốc tế và thúc đẩy các chương trình trao đổi sinh viên quốc tế ở các trường đại học tại Nhật Bản. Học bổng MEXT APU dành cho mọi bậc học từ cử nhân, thạc sĩ đến tiến sĩ. Học bổng sẽ tài trợ gần như toàn bộ mọi chi phí, bao gồm toàn phần học phí, phí sinh hoạt 144.000 JPY mỗi tháng (giá trị này có thể thay đổi), và vé máy bay hạng phổ thông để đi lại giữa hai nước khi bắt đầu và kết thúc chương trình học.  
Chi tiết >>