Những bài luận đã giúp tôi chinh phục thành công Harvard – Phần 1: bài luận về trải nghiệm

Những bài luận đã giúp tôi chinh phục thành công Harvard – Phần 1: bài luận về trải nghiệm

Những bài luận giúp tôi thành công chinh phục Harvard – được viết bởi Tony Ngo, Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh từ trường Kinh doanh, hiện đang là Chủ tịch và Giám đốc điều hành của Everest Education.

Trong suốt những năm qua, Everest đã dẫn dắt và hỗ trợ rất nhiều em học sinh được nhận vào các trường đại học danh tiếng và giành được nhiều suất học bổng lớn. Bài luận du học là một yếu tố vô cùng quan trọng để có được thành công đó. Đây cũng là lí do vì sao chúng tôi luôn khuyến khích các em học sinh của mình chia sẻ bài luận cho chúng tôi, thậm chí là cho cả bạn bè nữa. 

Và hôm nay, những sáng lập viên của College Compass, ông Tony Ngô và Don Lê, sẽ thực hiện một chuỗi video vô cùng đặc biệt, cũng như hết sức cá nhân: chuỗi video nhận xét về các bài luận được viết bởi chính Don và Tony, những bài luận đã đưa Don và Tony đến Stanford và Harvard.

Trong chuỗi video này, Don và Tony sẽ trực tiếp chia sẻ bài luận của mình, sử dụng các phương pháp đã dạy cho học sinh để nhận xét, chỉ ra các điểm tốt và những điểm cần khắc phục. Chúng tôi hy vọng những nhận xét chi tiết này có thể giúp các em hiểu hơn về quá trình viết luận, tự mình viết nên những bài luận xuất sắc chinh phục các nhà tuyển sinh. 

Video đầu tiên nhận xét về bài luận Tony đã viết gửi cho Trường Kinh Doanh Stanford, trả lời cho câu hỏi của trường về kinh nghiệm học thuật trong quá khứ.

📮 Nếu em cũng muốn bài luận của mình được các chuyên gia đến từ Everest nhận xét, đừng ngần ngại gửi bài luận cho chúng tôi tại info@e2.com.vn

📺 Theo dõi kênh Youtube của E2 để được cập nhật những nội dung tương tự: https://www.youtube.com/user/E2EverestEducation?subconfirmation=1

Read the full transcript

Don: Xin chào, tôi là Don. Tôi tốt nghiệp từ Đại học Stanford. 

Tony: Và tôi là Tony. Tôi tốt nghiệp từ Đại học Harvard và Stanford. 

Don: Chúng tôi là sáng lập viên của Trung tâm Everest Education.

Tony: Trong những năm qua, chúng tôi đã giúp đỡ nhiều em học sinh có thể vào được vào trường đại học mà các em mơ ước. Và một trong những phần quan trọng nhất là giúp các em viết nên những bài luận du học ấn tượng. Hôm nay chúng tôi quyết định chia sẻ một điều vô cùng cá nhân, đó là chia sẻ những bài luận đã giúp chúng tôi thành công chinh phục Đại học Harvard và Stanford.

Tôi và Don đã suy nghĩ rất lâu về việc này. Chúng tôi không chắc liệu có nên chia sẻ bài luận du học của mình hay không, bởi vì nó là một thứ khá riêng tư, nơi chúng tôi trình bày những mong muốn, hy vọng, nỗi sợ hãi và cả những thất bại của mình. Tuy nhiên, chúng tôi cũng đã yêu cầu các em học sinh của mình làm điều tương tự, thậm chí là yêu cầu các em phải chia sẻ bài luận của mình cho các bạn khác. Vì vậy, chúng tôi đã quyết định mạnh dạn chia sẻ những bài luận của chính mình đến với các em học sinh.

Don: Đúng vậy, bản thân tôi thực ra chưa từng đọc lại bài luận của mình kể từ khi tôi 18 tuổi, đã hoàn tất quá trình nộp đơn vào các trường đại học. Đó thật sự là một khoảng thời gian dài. Vì thế, tôi cảm thấy khá thú vị khi có cơ hội đọc lại những gì mình viết hồi đó và nhớ lại cách suy nghĩ của bản thân về thế giới những năm tháng đó.

Don: Hy vọng các em sẽ thích video này!

Tony: Nào, chúng ta bắt đầu ngay bây giờ nhé. Đây là bài luận của Tony nộp cho trường Kinh Doanh Harvard, trả lời cho câu hỏi về những trải nghiệm học thuật có được khi học đại học . Tôi sẽ đọc to từng đoạn, sau đó tôi và Don sẽ cùng thảo luận xem có những bài học gì rút ra được. Và đây, câu hỏi là:

Bạn mong muốn chia sẻ điều gì với Ban tuyển sinh MBA về trải nghiệm học tập của mình trong những năm đại học?

Tôi nghĩ bài luận này có thể hữu ích, không chỉ với những em học sinh đang người nộp đơn du học sau đại học, mà cả với những ai nộp đơn vào chương trình Đại học nữa. Bởi lẽ thông qua bài luận này, các em sẽ muốn thể hiện tính cách của bản thân, những thành tích cũng như trải nghiệm học tập của mình. Cho dù là đang học trung học hay đại học, tôi tin rằng các em đều có thể tìm thấy những bài học, ví dụ thực sự phù hợp với mình qua bài luận này. Chúng tôi sẽ đọc qua và cùng nhận xét từng đoạn. 

“Lúc này là 6:00 AM một buổi sáng tháng Ba tại Hồng Kông. Trong suốt 3 tháng vừa qua tham gia dự án “Global Project Coordination” (tạm dịch: Dự án Điều phối Toàn cầu), tôi nằm trong một nhóm gồm 8 cử nhân chuyên ngành Kỹ thuật Công Nghiệp đến từ Đại học Stanford và Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông. Dự án do một công ty tài trợ nhằm đánh giá mức độ khả thi của hệ thống phân phối cung cấp các thiết bị khách sạn giữa Mỹ và Trung Quốc. Cùng với nhau, chúng tôi đã xây dựng các mô hình tối ưu hóa lý thuyết, vẽ các biểu đồ phân phối, thực hiện các cuộc phỏng vấn thực địa để kiểm tra lại các giả thuyết của mình… tất cả đều được thực hiện bằng cách làm việc nhóm xuyên Thái Bình Dương. Buổi sáng tháng Ba hôm đó là lần đầu tiên nhóm của chúng tôi gặp nhau trực tiếp để cùng chuẩn bị bài thuyết trình cho công ty tài trợ. Khi phải cùng đối mặt nhiều vấn đề khác nhau về số liệu, về cách làm việc nhóm và vượt qua các thử thách văn hóa xảy ra trong suốt ba tháng vừa qua, chúng tôi càng thấm thía hơn giá trị của việc kết hợp giữa kiến thức và kinh nghiệm thực tế. Việc áp dụng các kiếm thức học thuật nhằm giải quyết các vấn đề thực tế luôn khiến tôi thích thú. Mặc dù phải bắt đầu từ rất sớm, nỗi háo hức chuẩn bị cho buổi làm việc chung đã giữ tôi hoàn hoàn tỉnh táo.”

Don: Tony, nếu tôi hiểu đúng, điều Tony đang làm ở đây là dẫn người đọc vào trải nghiệm buổi sáng hôm ấy, đúng không? Tôi nghĩ một trong những cách mở bài rất hiệu quả mà chúng ta thường thấy khi bắt đầu câu chuyện, là mở đầu bằng một bối cảnh cụ thể đã diễn ra trong thực tế. Tại sao Tony lại quyết định viết theo hướng này?

Tony: Đúng vậy, Tony cho rằng đó là một cách mở bài tuyệt vời. Tony nghĩ sẽ hiệu quả hơn nếu chúng ta mở bài ngay bằng một bối cảnh thật cụ thể nào đó, khi mà những cảm xúc mạnh mẽ nhất xuất hiện. Tony vẫn còn nhớ cảm giác khi  thực hiện dự án đó trong suốt một thời gian dài. Cảm giác đó cũng xuất hiện vào 6 giờ sáng hôm đó khi Tony thức dậy ở Hồng Kông, Tony nhớ rõ tâm trạng phấn khởi của mình về dự án sắp được thực hiện. Tony nghĩ rằng, hầu hết chúng ta có thói quen bắt đầu câu chuyện ngay từ phần đầu, nhưng đối với một người đọc, đặc biệt là những nhà tuyển sinh thường nhìn ngay vào phần chính của bài luận, phần đầu đó có hơi thừa thãi. Cũng như khi liên hệ về những bộ phim hay, chúng ta sẽ thường nghĩ ngay đến một cảnh hành động ấn tượng nào đó. Tony cũng muốn làm điều tương tự đối với bài luận của mình. Mặc dù đây không hẳn là một pha “hành động”, Tony cũng đã cố gắng khiến nó trở nên thú vị hơn bằng cách dẫn người đọc vào trải nghiệm của chính mình.

Don: Tôi hiểu rồi! Một điều tôi nhận thấy là sau khi nói về buổi sáng hôm ấy, Tony còn nói kể thêm về chi tiết về những việc mình đang làm. Tony có thể chia sẻ thêm về câu chuyện đó không?

Tony: Yeah, Tony nghĩ điều quan trọng nhất khi viết luận là làm sao đảm bảo người đọc hiểu được câu chuyện của chúng ta là gì, tại sao lại quan trọng với chúng ta, như một bối cảnh chung của bất kì tình huống nào. Ngay cả khi Tony nhảy vào ngay từ giữa nội dung câu chuyện, Tony cũng đã lùi lại để cùng cho người đọc hiểu rằng, “hey, trong suốt ba tháng qua tôi đã tham gia vào một dự án hợp tác, tôi nằm trong một nhóm sinh viên đến từ đại học Harvard và đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông”. Chúng tôi đã cùng nhau làm việc và phân tích vấn đề theo nhiều hướng khác nhau… Những thông tin chi tiết đó không thực sự quá nổi bật, nhưng lại cần thiết để đưa ra một số thông tin thể hiện rằng mình đã làm gì, đóng góp ra sao cho dự án đó, vấn đề đó. Cuối cùng, Tony cố gắng hướng nội dung sao cho có thể thêm vào những thông tin ngoài lề, và quay trở lại nội dung chính, bối cảnh chính của câu chuyện bằng hai câu cuối đoạn:

“Việc áp dụng các kiếm thức học thuật nhằm giải quyết các vấn đề thực tế luôn khiến tôi thích thú. Mặc dù phải bắt đầu từ rất sớm, nỗi háo hức chuẩn bị cho buổi làm việc chung đã giữ tôi hoàn hoàn tỉnh táo.”

Chúng tôi thường dặn các em học sinh hãy thể hiện qua ví dụ, đừng chỉ nói suông. Thay vì nói “Tôi đã làm việc rất chăm chỉ và tôi thực sự có động lực”, hãy cố gắng thể hiện điều đó bằng những trải nghiệm thực tế và tóm tắt chúng ở cuối bài. Trong đoạn văn tiếp theo, Tony đã cố gắng vận dụng điều đó đó: 

“Đó cũng là cách tôi đã dùng để định hình con đường học tập của mình trong suốt thời gian theo học tại Stanford. Tôi cố gắng xây dựng cho mình một nền tảng kiến thức vững chắc, toàn diện, chặt chẽ và thực tế, đồng thời phát triển kỹ năng lãnh đạo của mình thông qua các hoạt động cộng đồng tại trường đại học.”

Đây là đoạn văn tóm tắt nhằm định vị thương hiệu bản thân của cá nhân Tony về kinh nghiệm học tập. Tony chứng tỏ mình là một sinh viên toàn diện, luôn kết hợp kiến thức với kinh nghiệm thực tế và luôn cố gắng áp dụng những bài học về kỹ năng lãnh đạo của mình cho các hoạt động cộng đồng. Vậy nên, đoạn văn thứ hai là đoạn Tony dùng để định vị thương hiệu cá nhân của mình.

Don: Tony có thể giải thích rõ hơn định vị thương hiệu cá nhân nghĩa là gì không?

Tony: Tony nghĩ điều quan trọng đối với tất cả các học sinh là phải có một định hướng rất rõ ràng về điều các em muốn truyền đạt cho bất cứ ai đọc bài luận của mình. Các em chỉ có một vài phút để thu hút sự chú ý của họ. Vậy nên bài luận phải cực kỳ rõ ràng, mạch lạc về việc em là ai và có gì nổi bật so với các thí sinh khác. Được rồi, đoạn tiếp theo…

“Tôi nghiên cứu Lý thuyết Kinh tế để hiểu được cách các hệ thống và cơ chế khuyến khích ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội như thế nào. Bên cạnh Kinh tế vi mô và vĩ mô, tôi cũng khám phá thêm nhiều lĩnh vực khác, bao gồm Kinh tế học sức khỏe (economics of  health care), Kinh tế phát triển (developmental economics), và các quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capital investment). Cùng với đó, chương trình cử nhân ngành Kỹ thuật Công nghiệp đã trang bị cho tôi những kiến thức về mô hình, các khung phân tích số liệu thực tế. Những lớp học như  “Strategy in Technology-Based Companies” (tạm dịch: Chiến lược của các Công ty Công nghệ) đã tạo cơ hội cho tôi được tiếp xúc với rất nhiều tình huống thực tế. Việc phân tích các vấn đề thực tế của doanh nghiệp đã khơi dậy phần tính cách luôn hướng về kết quả (results-driven) của tôi, và tôi đã háo hức tranh thủ mọi cơ hội để thảo luận với các bạn học trong lớp về nhiều hướng giải quyết vấn đề khác nhau mà các doanh nghiệp có thể cân nhắc. Những khóa học kinh tế và công nghiệp kỹ thuật này, một cách tự nhiên, đã gieo vào tôi những hạt giống ước mơ về một tầm nhìn có thể mang lại những tác động xã hội rộng lớn, thông qua con đường kinh doanh.”

Don: Tony có thể giải thích mục đích của đoạn này không? Tony vừa giới thiệu về bản thân mình như một sinh viên, vậy mục đích của đoạn này là gì?

Tony: Trong đoạn này, Tony giải thích chi tiết hơn về những gì mình đã học, nhưng quan trọng hơn, Tony cố gắng chỉ ra những kiến thức này liên hệ đến bản thân mình như thế nào. Tại sao Tony lại muốn học thêm về những lĩnh vực này, hay việc Tony đã học và ứng dụng những kiến thức này như thế nào? Tony đã từng nói mình không phải một người quá lý thuyết. Đặc biệt, đối với những trường kinh doanh, họ coi trọng những người “dám làm” thực sự, những người biết nắm bắt lý thuyết và áp dụng nó hiệu quả trong lớp học. Vì vậy, Tony đã cố gắng nhấn mạnh điều đó ở đây, qua đó chứng tỏ tại sao mình thích hợp theo học chương trình kinh doanh của Harvard. Điều này đã được nhấn mạnh ở phần nói về các cuộc thảo luận về nhiều tình huống kinh doanh cũng như tình huống điều hành doanh nghiệp, và việc Tony thường xuyên chủ động trao đổi với bạn bè những chủ đề này như thế nào.

Don: Điều đó thực sự rất thú vị. Tôi nghĩ với nhiều sinh viên, đặc biệt là những em học sinh chuẩn bị du học đại học, đang chuẩn bị hồ sơ nộp vào nhiều trường khác nhau. Các em viết thật nhiều bài luận, thật nhiều lần, những bài luận chung chung để có thể nộp đi thật nhiều trường. Tony có nghĩ đó là một chiến lược hiệu quả không? Bởi ở đây, trong trường hợp này, Tony rõ ràng đã cho thấy rằng bài luận này chỉ đặc biệt phù hợp để nộp vào Harvard. Và việc viết từng bài luận như vậy sẽ mất nhiều thời gian hơn, Tony có thể chia sẻ một chút về vấn đề này không?

Tony: Đúng vậy, đây là một câu hỏi hay. Tony nghĩ, mặc dù các em có viết những bài luận chung chung để có thể nộp vào nhiều trường khác nhau, thì bất cứ khi nào có thể, hãy cố gắng chỉnh sửa lại sao cho phù hợp. Ngôi trường em nhắm tới nổi tiếng về điều gì, hay có những ngành học nào nổi trội? Sau đó, sử dụng những ví dụ thực tế của bản thân em để liên hệ sao cho phù hợp. Ví dụ như đối với trường Kinh doanh Harvard, là một ngôi trường nổi tiếng với phương pháp dạy học qua những tình huống thực tế. Hầu như không có việc ngồi nghe giảng bài, sinh viên hoàn toàn học hỏi dựa trên những cuộc thảo luận và tranh luận với nhau. Do vậy, ở đây Tony nhấn mạnh những kỹ năng tương tự mình đã xây dựng được khi học tại Stanford. Cuối cùng, Tony kết đoạn qua câu cuối:

“Những khóa học kinh tế và công nghiệp kỹ thuật này, một cách tự nhiên, đã gieo vào tôi những hạt giống ước mơ về một tầm nhìn có thể mang lại những tác động xã hội rộng lớn, thông qua con đường kinh doanh.”

Ở đây, Tony lại một lần nữa nhấn mạnh về nền tảng học thuật của mình và cố gắng liên hệ nó ngược lại với định vị giá trị của bản thân. Một lần nữa, Tony chứng tỏ mình là người luôn cố gắng kết hợp giữa lý thuyết và kinh nghiệm thực tế, và áp dụng kiến thức của mình đối với các hoạt động cộng đồng. Tony cũng cố gắng mở rộng thêm để chứng tỏ bản thân mình có nhiều hoài bão, và thực sự muốn tạo ra những ảnh hưởng tích cực, to lớn cho xã hội bằng con đường kinh doanh. Điều này cũng phù hợp với sứ mệnh của trường Kinh doanh Harvard, mong muốn đào tạo những nhà lãnh đạo có thể thay đổi thế giới. Vậy nên một lần nữa bài luận cá nhân của Tony chứng tỏ bản thân Tony chính là ứng viên phù hợp mà trường đang tìm kiếm. Một lần nữa, khi các em nghiên cứu về trường mà mình muốn nộp hồ sơ, hãy tìm hiểu về sứ mệnh, tầm nhìn của trường, có những điều gì đặc biệt về những ngành học ở đây. Tiếp theo, đoạn văn kế cuối:

“Tôi bổ sung cho kiến thức học thuật của mình bằng những trải nghiệm lãnh đạo thực tế. Là sinh viên năm thứ hai được chọn tham gia vào Stanford Consulting, một tổ chức sinh viên phi lợi nhuận, tôi đã vận dụng những kiến thực học thuật mình có được ở lớp để tư vấn giải pháp tiếp thị cho một số công ty tại Thung Lũng Silicon.  Với cương vị là chủ tịch của Lambda Phi Epsilon, tôi cũng đã vận dụng thành công những bài học đã học được từ các lớp học về Hành vi tổ chức (organizational behavior) để xây dựng được sự đồng thuận lớn trong các phiên đấu giá vì cộng đồng và gây quỹ khám chữa bệnh bạch cầu.”

Don: Okay, Tony có thể giải thích cụ thể hơn một chút, dường như những đoạn ở trên là nói về trải nghiệm học thuật, còn đoạn này Tony đang nói về kinh nghiệm tham gia các hoạt động xã hội của mình?


Tony: Đây là một trong những phần khá khó khăn với Tony để cân bằng giữa cả hai, làm thế nào để kể về các kinh nghiệm hoạt động ngoại khóa của mình sao cho ý nghĩa? Không chỉ đơn giản là liệt kê ra mọi hoạt động cần làm, bởi những điều này đều đã có trong hồ sơ lý lịch cả rồi. Nên một lần nữa, Tony nghĩ bí quyết ở đây là viết nó sao cho có thể liên hệ được với giá trị bản thân của mình. Vậy nên, câu đầu tiên Tony nhấn mạnh về nguyên nhân:

Tôi bổ sung cho kiến thức học thuật của mình bằng những trải nghiệm lãnh đạo thực tế.”

Đây là những hoạt động ngoại khóa mà Tony đã làm. Don cũng từng tham gia Stanford đúng không?  Chúng ta đã có những năm tháng tuyệt vời tại đó. Một trong những điều quan trọng mà Tony muốn nhấn mạnh, đó là khả năng áp dụng được những lý thuyết đã học ở giảng đường vào những hoạt động thực tế của doanh nghiệp, và có thể tư vấn chiến lược cho họ. Kinh nghiệm hoạt động ngoại khoá của Tony cũng được thể hiện qua thời gian tham gia hội học sinh, Tony đã từng là chủ tịch hội sinh viên khi học đại học. Khoảng thời gian tại đó không chỉ đơn giản là được tận hưởng các hoạt động ngoại khoá, mà dần dần, còn dạy Tony nhiều điều về hành vi tổ chức (organizational behaviour), bài học lãnh đạo mà Tony đã sử dụng, cố gắng tiếp thu và áp dụng vào nhiều hoạt động sau đó mà chúng tôi đã tổ chức. Và lưu ý, Tony không kể quá chi tiết về những hoạt động này. Thứ nhất, bởi vì số lượng từ ngữ giới hạn không cho phép, bên cạnh đó, những thông này cũng không thực sự cần thiết để củng cố nội dung chính của bài luận. Câu hỏi này không thực sự hỏi về kinh nghiệm hoạt động ngoại khoá, mà chú trọng hơn đến trải nghiệm học thuật. Do đó Tony chỉ nhắc lướt qua để làm nổi bật ý chính về trải nghiệm học thuật nói chung.

Đến phần cuối cùng, Tony kết lại một cách rất đơn giản thường thấy. Đoạn cuối chủ yếu mô tả bản thân Tony đã cố gắng nắm bắt mọi cơ hội mình có được như thế nào, và đã cố gắng đóng góp cho cộng đồng ra sao. Tony cố gắng dùng một câu để dẫn về lại tinh thần ban đầu của câu chuyện, về khoảnh khắc Tony thức dậy lúc 6 giờ sáng tại Hồng Kông.  Không phải bằng cách kể lại thật rõ ràng, mà Tony chỉ kết lại một câu như thế này:

“Không quên kết hợp giữa kiến thức và thực tế, tôi tiếp cận từng vấn đề, tình huống, từng dự án, với tâm thế vô cùng phấn khởi – như tâm trạng đón bình minh của một ngày mới đang bắt đầu.

Đây cũng chính là tâm trạng Tony đã có ngay từ đầu bài luận, bắt đầu lúc 6 giờ sáng ngày hôm đó.

Don: Vậy Tony đã chọn cách nhấn mạnh những thành tựu lớn trong quá trình học tập của mình. Với một số học sinh, các em sẽ chọn một vài trải nghiệm chính và kể thật chi tiết về chúng. Tony nghĩ rằng cách viết nào sẽ tốt hơn đối với một số trường hợp cụ thể nào không?  

Tony: Tony nghĩ điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào mỗi người, vào những gì các em muốn thể hiện trong bài luận định vị bản thân mình. Tony cho rằng cả hai chiến lược đều tốt, miễn là các em có đủ nội dung để đưa vào bài luận. Trong trường hợp của mình, bởi vì trường Kinh doanh Harvard cung cấp những chương trình quản lý chung, Tony nghĩ sẽ tốt hơn nếu Tony sắp xếp những ý tưởng và thể hiện rằng mình có thể trình bày mạch lạc về nhiều trải nghiệm và gắn kết chúng lại với nhau. Nói là vậy, nhưng nếu như Tony sử dụng bài luận này để ứng tuyển vào những chương trình giáo dục khai phóng (liberal arts), hay để thể hiện được sự ham học hỏi của bản thân, luôn cố gắng tìm tòi trong một lĩnh vực nào đó… thì Tony tin rằng bài viết này đều đã thể hiện được những điều đó. Viết theo cách này hay cách khác đều hoàn toàn do bản thân mỗi người tự lựa chọn.

Don: Khi đọc lại bài luận này, hẳn là rất nhiều năm đã trôi qua kể từ khi Tony nộp đơn vào trường Kinh doanh Harvard, hồi năm 2005-2006, đúng không Tony? 

Tony: Đúng vậy.

Don: Đọc lại bài luận ở thời điểm hiện tại, sau khi đã có nhiều năm kinh nghiệm làm việc với các em học sinh, có điều gì Tony muốn thay đổi không? Hay cảm thấy “nó đã đủ tốt rồi”?

Tony: Tony đã sửa bài luận này rất nhiều lần rồi. Tony đã nhờ 2,3 người có nhiều kinh nghiệm cho Tony nhận xét chi tiết cho nhiều bản viết nháp khác nhau. Những người này đã giúp Tony có thể sắp xếp bố cục bài luận hợp lý hơn, cũng như thể hiện các ý rõ ràng hơn.Có những điều Tony đã không nhận ra, như tầm quan trọng của việc định vị thương hiệu bản thân như thế nào, trong những bản nháp đầu tiên. Một trong những lời khuyên mà Tony đã nhận được là, “Hey, tôi hiểu về những dự án mà bạn đã và đang làm rồi, nhưng tôi thực sự vẫn chưa thấy được hình ảnh của bản thân bạn qua những công việc này? Còn về lối viết, những cụm từ và ví dụ mà Tony đã chọn đưa vào bài viết, Tony không nghĩ là mình sẽ thay đổi nhiều nếu viết lại. Tony đã từng viết nháp 20 đến 30 lần trong suốt 6 tháng trời rồi, nên Tony thực sự cảm thấy khá hài lòng với bài luận này. 

Don: Okay, tuyệt vời!

Tony: Cảm ơn các em đã theo dõi đến tận đây. Chúng tôi hy vọng chuỗi video đánh giá chi tiết này sẽ hữu ích đối với các em. Nếu các em thấy nội dung này hữu ích, đừng quên ủng hộ chúng tôi bằng cách like, chia sẻ và đăng ký theo dõi chúng tôi. Chúng tôi sẽ chia sẻ thêm nhiều thông tin hữu ích hơn nữa. Nếu các em có bất cứ câu hỏi, bình luận, hay chủ đề nào muốn chúng tôi trả lời, đừng ngại chia sẻ với chúng tôi.

Don: Bên cạnh đó, một trong những việc mà chúng tôi có thể làm là thực hiện phần đánh giá bài luận tương tự cho các em. Nếu không ngại chia sẻ công khai bài luận của mình, hãy gửi nó cho chúng tôi! Gửi cho chúng tôi bản sao chép bài luận của chính các em qua mail bên dưới, chúng tôi sẽ nhận xét thật chi tiết cho các em.

Tony: Xin cảm ơn các em!

📮 Gửi bài luận cho chúng tôi tại info@e2.com.vn

 

Mình đã vào Stanford như thế nào?

Mình đã vào Stanford như thế nào?

Một trong những em học sinh của chúng tôi, Linda Tong, đã được nhận vào Đại học Stanford, niên khoá 2020 cùng với một số trường đại học nổi tiếng khác, bao gồm Columbia, Berkeley, Wellesley, Georgetown và Barnard.

Chúng tôi đã có cơ hội phỏng vấn và có một cuộc trò chuyện thú vị với Linda, nghe em chia sẻ một vài bí quyết thú vị trong quá trình ứng tuyển vào Stanford, được đúc kết từ chính kinh nghiệm của mình.

Video dưới đây sẽ phân tích chiến lược nộp hồ sơ của Linda, bao gồm cả cách em đã gây ấn tượng với các nhà tuyển sinh như thế nào, những lý do đã khiến em quyết tâm lựa chọn “The Farm” (nickname của Stanford), và cách áp dụng phương pháp SOAR mà chúng tôi đã dạy để vượt qua vòng phỏng vấn.

Kéo xuống để đọc toàn bộ nội dung video.

Đọc nội dung video tại đây

Tony: Xin chào tất cả mọi người, hôm nay tôi có mặt ở đây cùng với Linda.

Linda: Xin chào!

Tony: Hôm nay thầy rất vui có được cơ hội trò chuyện với em.

Linda: Em cũng rất vui vì được gặp thầyl.

Tony: Linda ở đây để chia sẻ về kinh nghiệm của mình

Linda: Mm-hmmm!

Tony: khi nộp hồ sơ ứng tuyển vào Stanford.  Tôi cực kì hào hứng; em ấy đang chuẩn bị cho hành trình mới của mình tại trường. 

Linda: [cười lớn]

Tony: Nếu biết trước thì hôm nay thầy đã mang theo áo thun Stanford rồi!  Vậy em có thể cho biết, lí do nào đã khiến em quyết định nộp hồ sơ vào Đại học Stanford không?

Linda: Em nghĩ rằng đối với em thì đó chắc hẳn là chương trình liên ngành đa dạng của Đại học Stanford. Khi còn học cấp 3, em học giỏi đều các môn. Em chưa bao giờ theo đuổi một môn học hay một sở thích duy nhất, nhưng điều khiến em thích thú là được khám phá nhiều điều mới mẻ. Em đã từng rất thích học lập trình, nhưng song song với đó em cũng yêu thích văn học Hy Lạp nữa. Vì vậy em đã chọn theo học tiếng Latin và tiếng Hy Lạp.

Linda: Em thích học ngôn ngữ, tìm hiểu về văn hóa, lịch sử. Em nghĩ rằng Đại học Stanford rất ủng hộ điều đó và chương trình học của họ còn tập trung phần lớn vào việc giúp chúng em tìm thấy điểm chung giữa rất nhiều lĩnh vực khác nhau, và tìm thấy mối liên hệ giữa các lĩnh vực đó. Vậy nên em nghĩ đó là điểm đã khiến em ấn tượng nhất về trường Stanford. 

Tony: Hmmmm………Stanford có thông tin chi tiết nào về chương trình có thể kết hợp và Lập trình và Ngôn ngữ không? 

Linda: Em tin rằng Stanford vẫn có nhiều chuyên ngành khác nhau kết hợp những môn học khác nhau. Một trong những ví dụ đó là chương trình Symbolic Systems.

Tony: Yeah!

Linda: Đây là chương trình kết hợp môn Khoa học Máy tính với Ngôn ngữ học, Tâm lý học, và một số môn học khác. Hoặc cũng có chương trình MCS, là khóa học kết hợp Toán và Khoa học Máy tính. Hay một ví dụ khác là ngành Human Biology – Sinh học và Nhân văn.

Tony: Mm-hmmm!

Linda: Đây là một trong những điểm đặc biệt của Stanford mà chúng ta không thể tìm thấy ở nơi nào khác.

Tony: Ồ vậy sao? Thầy không biết điều này đấy.

Linda: Well, thầy có thể kiểm tra thử nếu muốn. [laughs]

Tony: [laughs] Well, khi thầy còn học ở đó, họ có một ngành học gọi là BioX, là một chương trình học cực kỳ nặng, kết hợp hai ngành Sinh học và Kỹ sư.  

Linda: Đúng vậy.

Tony: Thầy nghĩ rằng đó chắc hẳn là một trong những chương trình kết hợp đầu tiên như vậy.

Linda: Yeah.

Tony: Em có nói là em có rất nhiều sở thích khác nhau khi còn học cấp 3, nhưng thầy nghĩ rằng khi những em học sinh như vậy khi nộp hồ sơ ứng tuyển vẫn phải đối mặt với nhiều vấn đề lớn. Chẳng phải các em vẫn thường được khuyên là: “Này, học giỏi toàn diện cũng không có nhiều lợi thế khi nộp hồ sơ du học đâu” hay sao.

Linda: Đúng vậy ạ.

Tony: Em có thể chia sẻ một chút về vấn đề này được không, vậy nên học sinh nên cố gắng để giỏi toàn diện, hay chỉ nên theo đuổi một lĩnh vực nhất định?

Linda: Em nghĩ rằng với em, đó nên là sự kết hợp của cả hai điều trên. Điều thầy vừa nói cũng là một trong những điểm yếu của em khi nộp hồ sơ dự tuyển. Em đã từng rất sợ khi nhận ra mình không hề có một sở thích cụ thể nào, sợ là mình không đủ sức cạnh tranh với nhiều bạn ứng viên giỏi khác.

Tony: Uh-huh.

Linda: Đặc biệt là, em nghĩ năm nay Stanford có…………well, năm ngoái, tỷ lệ đậu vào Stanford chỉ có khoảng 4.3% và họ đã ngừng công bố những thông tin này. 

Tony: [cười lớn] Thầy chắc rằng năm nay cũng không lớn hơn 4% đâu.

Linda: Chính xác ạ, và điều đó đã khiến em suy nghĩ rất nhiều. Ở trường nội trú của mình, em đã được khuyến khích theo đuổi nhiều sở thích khác nhau, được trao cơ hội cũng như có nhiều điều kiện học hỏi. Em đã cố gắng tận dụng mọi cơ hội và điều kiện có được khi học tại trường. Thầy cũng đã từng khuyên em là Đại học Stanford rất coi trọng tinh thần học hỏi.

Tony: Mm-hmmm!

Linda: Với em, em luôn tự đánh giá mình là một học sinh rất tò mò và ham học hỏi. Em thực sự rất thích học. Em thích cảm giác được tìm hiểu những môn học, kiến thức mới và bởi vì em có sở thích ở nhiều lĩnh vực khác nhau, em tin rằng đây cũng là điều mà Stanford coi trọng.

Tony: Thầy hiểu. Đối với thầy, khi đọc hồ sơ ứng tuyển của các em học sinh, thầy vẫn luôn nhấn mạnh rằng các em phải tìm cách thể hiện bản thân của mình sao cho rõ ràng nhất có thể. 

Linda: Đúng vậy!

Tony: Thầy đã cùng các học sinh xây dựng nên một phương pháp mà, còn được gọi là, bài viết định vị bản thân.

Linda: Vâng.

Tony: Chúng ta vẫn chưa bàn về vấn đề này, nhưng khi nộp hồ sơ, em có tìm cách để thể hiện ngắn gọn, “Linda là ai” không?

Linda: Hẳn rồi ạ, với em thì đó chính là sự đa dạng trong sở thích cũng như kiến thức của mình, bên cạnh đó là kiến thức về các môn học xã hội nữa. Trong bài luận chính của mình, em đã viết về quá trình học ngôn ngữ của mình như thế nào khi trưởng thành. Em đã đến Mỹ, học tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai. Qúa trình đó thực sự không dễ dàng, nhưng nó đã dạy em biết kiên trì hơn cũng như dần dần khiến em yêu thích việc học.

Tony: Mm-hmmm!

Linda: Khi còn học cấp 2, em bắt đầu học tiếng Pháp và tiếng Latin. Giờ thì em đang học tiếng Hy Lạp và ngôn ngữ lập trình Python.

Tony: Tất cả các thứ tiếng khác nhau?

Linda: Đúng vậy ạ, em cũng bắt đầu học tiếng Việt từ mùa hè vừa qua. 

Tony: Tuyệt vời!

Linda: Vâng! Em rất thích học ngôn ngữ. Tuy vậy bên cạnh đó, em nghĩ một trong những phần nổi bật nhất trong suốt quá trình trưởng thành của mình, đó là được trải nghiệm nhiều môi trường học khác nhau. Em đã từng học ở trường công lập, trường tư thục, trường nội trú, trường quốc tế ở Trung Quốc và ở Mỹ. Nhờ vậy, em được gặp gỡ nhiều người đến từ nhiều hoàn cảnh sống khác nhau, và học cách kết nối với họ. Đó cũng là một trong những trải nghiệm thú vị nhất mà em có được. 

Tony: Mm-hmmm!  Thầy hiểu, vậy thầy có thể tóm tắt lại như thế này không? Nghĩa là em cho rằng điểm khiến em nổi bật không chỉ là kiến thức đa dạng của mình, bởi thầy tin là vẫn có những ứng viên có thể biết cả 2,3 hay thậm chí là 4 ngôn ngữ khác nhau.

Linda: Đúng vậy ạ!

Tony: Những em đã có thể thể hiện bản thân mình một cách rõ ràng bằng cách liên hệ kiến thức với những kinh nghiệm thực tế về con người, văn hóa mà em tiếp xúc.

Linda: Vâng ạ, trong bài luận chính của mình em cũng đã thể hiện tất cả những điều đó, như mình là một “con mọt sách” chính hiệu, em không tính nói dối đâu.

Tony: [cười lớn]

Linda: Chủ đề bài luận em đã chọn là “wandering” – sự lang thang tìm kiếm.  Trong tiếng Latin, từ wander (lang thang) xuất phát từ từ errowaray, cũng là từ nguyên thủy của từ “error” (lỗi) mà chúng ta có trong tiếng Anh ngày nay.  

Tony: Hmmm!

Linda: Thông thường, trong tiếng Anh, khi chúng ta nói về lỗi lầm, nó thường mang lại cảm xúc tiêu cực bởi điều đó có nghĩa là chúng ta đã làm sai và thất bại. Nhưng đối với em, em yêu thích cả quá trình thất bại đó. Em đã học được cách yêu mến sự vô định, yêu mến thất bại và quá trình tìm cách khắc phục. 

Tony: Điều đó thật tuyệt vời!  Thầy tin rằng nhiều em học sinh khác cũng gặp phải áp lực lớn tương tự khi nộp hồ sơ du học.

Linda: Vâng.

Tony: Các em cho rằng để vào được Stanford mình phải có những thành tích cực kì xuất sắc. 

Tony: Tuy nhiên thực tế là, với tư cách là người phỏng vấn, thầy hiểu rằng đó không chỉ là về việc “Em đã giành được huy chương Olympics” hay “em đã được giải nhất trong kì thi nọ.”

Linda: Đúng vậy ạ.

Tony: Nhưng quan trọng hơn là quá trình học hỏi. 

Linda: Đúng vậy! Em tin rằng với số lượng ứng viên khổng lồ như vậy, có rất nhiều bạn có những thành tích “khủng”.

Tony: Mm-hmmm!

Linda: Với em, em cũng đã từng nhận được học bổng AP quốc gia, khi tham gia kỳ thi tiếng Latin và tiếng Hy Lạp quốc gia.

Tony: Nhưng em không cần phải đưa nó vào bài luận.

Linda: Chính xác! Em không cho rằng những thành tích này có thể khiến bản thân đủ nổi bật. Cá nhân em khi lớn lên và sống ở một quốc gia Châu Á, em hiểu rằng người Châu Á rất coi trọng thành tích và những con số. 

Tony: Yep!

Linda: Chúng em thường hay nói về điểm SAT, điểm GPA và các kỳ thi khác. Chúng em thường đặt nặng phần này bởi chúng em đã phải cố gắng rất nhiều cho chúng. Tuy nhiên, một lần nữa, quá trình theo học trường nội trú tại Mỹ như em có chia sẻ, đã dạy em hiểu rằng những gì mà các trường đại học tìm kiếm ở chúng ta không thể phản ánh qua thành tích.  

Tony: Chính xác. Vậy có đúng không khi thầy nói rằng, để khiến hồ sơ của mình có thể được chú ý, học sinh vẫn cần phải có điểm GPA và SAT cao.  

Linda: Vâng.

Tony: Nhưng để khiến bản thân mình nổi bật, chúng ta cần có một câu chuyện đủ sức thuyết phục.

Linda: Vâng, em cũng nghĩ rằng thành tích tốt vẫn rất có ích, nhưng chưa đủ.

Tony: Tuyệt vời.  Vậy một lần nữa, có rất nhiều học sinh có điểm số hoàn hảo nhưng vẫn không được nhận vào trường, bởi vẫn còn những yếu tố quan trọng khác. 

Linda: Vâng.

Tony: Vậy, bàn về quá trình phỏng vấn, thầy và em đã từng thảo luận về cách làm thế nào để có thể thể hiện câu chuyện của mình một cách rõ ràng và thuyết phục, đặc biệt là trong phần phỏng vấn. Vậy cảm giác của em khi phỏng vấn tại Stanford như thế nào?

Linda: Em thực sự rất thích cuộc phỏng vấn của mình, người phỏng vấn em, thầy ấy cũng đã từng tốt nghiệp Stanford chuyên ngành Hóa học. Em nộp đơn vào ngành Văn học Hy Lạp và Khoa học Máy tính, nhưng nhờ những bí quyết mà thầy đã dạy, em đã có thể tự tin giao tiếp và tạo ra kết nối với người phỏng vấn của mình.

Tony: Mm-hmmm!

Linda: Bí quyết là hãy cẩn thận lắng nghe, đặt đúng câu hỏi, đúng lúc, và nếu phải chia sẻ về trải nghiệm của mình, phải cố gắng làm sao để liên hệ trải nghiệm đó với giá trị của bản thân. Chúng ta cũng có thể hỏi về trải nghiệm của chính họ để từ đó tìm được điểm chung.

Tony: Ồ xin lỗi em, để thầy tóm tắt lại.

Linda: Okay!  

Tony: Hãy là một người biết lắng nghe và biết đặt câu hỏi đúng dựa trên những gì mình nghe được, đúng không?

Linda: Vâng ạ!

Tony: Okay.

Linda: Còn một điều nữa, đó là phương pháo mà thầy đã dạy cho em,  S.O.A.R. Situation (Tình huống), Obstacles (Khó khăn), Actions (Hành động), và Results (Kết quả).

Tony: Mm-hmmm!

Linda: Em nghĩ rằng có một câu chuyện là điều rất quan trọng, bởi là một ứng viên, bạn sẽ muốn thể hiện con người mình cũng như khiến hình ảnh của chúng ta gần gũi hơn bằng một câu chuyện. Em nghĩ đây cũng là lí do tại sao kỹ năng kể chuyện lại rất quan trọng.

Tony: Chính xác!  Thầy đã làm việc với rất nhiều học sinh và nhận thấy rằng, nhiều em có xu hướng liệt kê thành tích của mình thành một danh sách dài, thống kê mọi hoạt động, thành tích như một bản lý lịch vậy. Mặc dù những điều này hoàn toàn đã được thể hiện trong phần còn lại của hồ sơ rồi. 

Linda: Vâng.

Tony: Hoặc có thể các em đó muốn thể hiện qua một câu chuyện, nhưng nó lại chưa đủ rõ ràng. 

Linda: Mm-hmmm.

Tony: Vậy nên thầy đã đề xuất một phương pháp, S.O.A.R, như thầy và em đã có nói qua.

Linda: Mm-hmmm.

Tony: “Situation,” (Tình huống), để mô tả lại hoàn cảnh của câu chuyện. Và sau đó, vấn đề nào đã xuất hiện? Đó là khi mâu thuẫn, hay “Obstacle” (Khó khăn) xuất hiện buộc em phải vượt qua để có được thành công? 

Linda: Vâng. Mm-hmmm.

Tony: “A” là Action (Hành động). Những “hành động” nào em đã thực hiện đã giải quyết vấn đề đó?  

Linda: Mm-hmmm.

Tony: Đôi khi, một trong những sai lầm của học sinh là kể lại câu chuyện của mình một cách quá thụ động. Mọi thứ cứ tự nhiên xảy đến và các em chỉ có việc nghĩ về nó. Nhưng thầy tin điều quan trọng hơn là mô tả lại quá trình, nhấn mạnh những việc các em đã chủ động làm.

Linda: Mm-hmmm.

Tony: Và cuối cùng, Result (Kết quả), chữ “R” cuối cùng. Kết quả ở đây, một lần nữa, không phải là thành tích như em đã đạt giải quán quân ở kỳ thi nọ, mà quan trọng hơn là bài học em rút ra được. Bài học ở đây là gì? Nó đã giúp em trưởng thành như thế nào? Vì sao trải nghiệm này lại có ý nghĩa đối với em, phải không? 

Linda: Mm-hmmm. 

Tony: Nếu không ngại, em có thể chia sẻ về một câu chuyện em đã kể trong quá trình phỏng vấn hay trong bài luận của mình được không?

Linda: Vâng, đây là một câu chuyện kể về trải nghiệm của em trong một ngày hội thông tin của trường nhân dịp kỉ niệm Martin Luther King.  Đối với em, em rất thích học về lịch sử cổ đại, nhưng điều khiến em thích thú hơn là mối liên hệ giữa lịch sử với những vấn đề bình đẳng xã hội trong thời hiện đại. 

Tony: Hmmm!

Linda: Điều thú vị nhất khi nghiên cứu về lịch sử ở thế kỷ 21 là dù nghe rất xa xôi, nhưng lại hoàn toàn phù hợp với xã hội hiện đại. 

Tony: Chắc chắn rồi.

Linda: Trong lớp học của em, chúng em bàn về Ovid và liên hệ những câu chuyện này đến làn sóng Me Too của thời hiện đại. 

Tony: Wow! Điều đó thật sâu sắc, em đã viết nó trong bài luận?

Tony: Thực ra, khi áp dụng phương pháp này với một số học sinh, nhiều em đã làm theo một cách rất máy móc. “Chuyện này đã xảy ra, tôi đã làm như thế này và đây là kết quả”. Tuy nhiên, thực tế, các nhà tuyển sinh muốn thấy được bài học em đã học được trong hoàn cảnh đó, em đã nghĩ gì, cảm thấy như thế nào. 

Tony: Cuối cùng, em có lời khuyên nào dành cho các bạn để có thể tối đa hóa cơ hội được nhận vào Stanford không? 

Linda: Em nghĩ một trong những điều quan trọng nhất là hiểu được lý do tại sao bạn ứng tuyển vào trường. Hầu như trường nào cũng yêu cầu bài luận cũng như một số bài luận bổ sung khác. Đó có thể là, “Bạn mong đợi điều gì nhất khi theo học tại đây? hay “Lí do bạn ứng tuyển vào trường này?”. Bên cạnh đó, bạn nên biết rõ tại sao mình lại muốn vào trường đó. Em nghĩ đối với một ứng viên đến từ Châu Á, một trong những lí do là áp lực phải được nhận vào một trường có “tên tuổi”.

Tony: Chắc chắn rồi.

Linda: Điều đó cũng áp dụng đối với những trường đại học hàng đầu. Em có quen nhiều bạn đã vội vàng nộp một hồ sơ đi nhiều trường đại học khác nhau, những trường đại học lớn, mặc dù những trường này có tính chất hoàn toàn khác biệt so với các trường còn lại. Vậy nên em nghĩ, điều quan trọng nhất là bạn hiểu rõ bản thân mình muốn gì cũng như biết rõ bạn muốn học được gì khi ứng tuyển vào trường mà bạn chọn. 

Tony: Đúng vậy, Stanford và Harvard hoàn toàn khác biệt! 

Linda: Vâng.

Tony: Khi nghĩ lại về trải nghiệm của chính mình, thầy nhận thấy, khi còn học cấp 3, thầy không hề biết rằng giữa các trường lại có sự khác biệt lớn đến vậy. Đó cũng là lý do sau này thầy làm việc rất chặt chẽ với học sinh để đảm bảo rằng các em đã nghiên cứu thật kỹ

Linda: Chắc chắn rồi!

Tony: không chỉ là về những con số, mà còn là trải nghiệm thực sự khi học tại trường sẽ như thế nào?

Linda: Chính xác!

Tony: Em mong muốn được học trong một môi trường như thế nào? Em muốn tham gia vào những hoạt động nào khi đã được nhận vào trường? Em có thể mường tượng bản thân mình ở trong môi trường đó không?

Linda: Vâng, em nghĩ mặc dù bản thân em đã từng trải qua quá trình nộp đơn nhiều lần, em cũng đã không tự mình đưa ra được câu hỏi đúng cho bản thân,

Tony: Mmmm!

Linda: chỉ có đến khi tự hoàn thành quá trình nộp hồ sơ vào đại học em mới hiểu.

Tony: Yeah!

Linda: Bất ngờ có một điều gì đó lóe lên và đó là lúc em nhận ra, em ước rằng bản thân mình đã biết vấn đề nằm ở đâu sớm hơn.

Tony: Lời khuyên vô cùng hữu ích, well cảm ơn em rất nhiều!

Linda: Em cảm ơn thầy!

Tony: Cảm ơn em vì đã đến!

Linda: Em thực sự rất biết ơn thầy, vì tất cả sự giúp đỡ và hỗ trợ nhiệt tình. Em không nghĩ là mình sẽ làm được nếu không có thầy.

Tony: Thầy rất mong đợi được nhìn thấy con đường học tập và nghề nghiệp của em sẽ phát triển như thế nào trong tương lai, hy vọng chúng ta sẽ giữ liên lạc.

Linda: Vâng chắc chắn rồi!

Tony: Hãy cho thầy biết bất cứ khi nào em cần giúp đỡ nhé!

 Linda: Cảm ơn thầy! 

5 sai lầm của học sinh Việt Nam khi viết luận du học

5 sai lầm của học sinh Việt Nam khi viết luận du học

Em có biết bài luận du học quan trọng đến mức nào?

Theo thống kê, trung bình một nhà tuyển sinh chỉ có khoảng từ 8~12 phút để chấm một bộ hồ sơ du học, và họ sẽ bắt đầu từ bài luận! Quan trọng là vậy, nhưng hầu hết học sinh Việt Nam hiện nay lại chưa biết cách làm thế nào để viết nên một bài luận ấn tượng thuyết phục các nhà tuyển sinh.

Qua chương trình College Compass, những sáng lập viên của Everest Education – Tony Ngo (tốt nghiệp Đại học Harvard và Stanford), và Don Le (tốt nghiệp Đại học Stanford) – đã có cơ hội làm việc với rất nhiều em học sinh để tư vấn cho các em về việc chuẩn bị hồ sơ du học. Và chúng tôi nhận thấy hầu hết học sinh Việt Nam khi viết luận đều mắc những lỗi sai cơ bản rất giống nhau.

Vì vậy, ở video dưới đây, chúng tôi xin được chia sẻ 5 sai lầm học sinh Việt Nam hay mắc phải khi viết luận du học, với hy vọng giúp các em tránh lặp lại những lỗi sai này.

Thực hiện video này, chúng tôi hy vọng tất cả các em có thể nhận biết, tránh lặp lại những sai lầm tương tự khi viết luận, cũng như học được những lời khuyên hữu ích cho mình trong quá trình chuẩn bị bài luận để có thể tự tin nộp hồ sơ vào ngôi trường em mơ ước!

Đừng quên đăng ký theo dõi kênh Youtube của chúng tôi để được cập nhật những video mới nhất: https://www.youtube.com/user/E2EverestEducation?subconfirmation=1

Tìm hiểu thêm về chương trình College Compass: https://e2.com.vn/vi/chuong-trinh/college-compass/

 

Nhà tâm lý học ĐH Stanford tiết lộ bí quyết dạy trẻ biết tự tin

Nhà tâm lý học ĐH Stanford tiết lộ bí quyết dạy trẻ biết tự tin

Carol Dweck, nhà tâm lý học đến từ Đại học Stanford đồng thời cũng là chuyên gia nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực tâm lý học đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai lối tư duy phổ biến, chi phối đời sống, suy nghĩ, hành động, từ đó dẫn đến cơ hội thành công của mỗi người chúng ta.

Lối tư duy thứ nhất là Fixed Mindset – Tư Duy Bảo Thủ, cho rằng tài năng của mỗi người là có hạn và không thể thay đổi. Ngược lại, tư duy thứ hai là Growth Mindset – Tư Duy Cầu Tiến, dựa trên niềm tin rằng ai cũng có thể thay đổi nếu biết nỗ lực.

Những người có Tư Duy Bảo Thủ thường có xu hướng đầu hàng khi đứng trước khó khăn. Trong khi đó, những người có Tư Duy Cầu Tiến lại xem mỗi thách thức như một cơ hội để học tập và phát triển.

Liệu chúng ta không có đủ trí thông minh để giải quyết vấn đề… hay chúng ta chỉ chưa cố gắng đủ? 

Video dưới đây bật mí về sức mạnh “Tư Duy Cầu Tiến”, làm thế nào lối tư duy có thể giúp học sinh thành công ở trong và cả bên ngoài lớp học, và làm sao chúng ta có thể áp dụng lối tư duy này ở nhà, ở trường hay trong công việc sau này.

Bấm vào để theo dõi nội dung

Carol Dweck, nhà tâm lý học nổi tiếng thế giới đến từ Đại học Stanford, sau nhiều chục năm nghiên cứu về sự thành công, đã khám phá ra một ý tưởng cực kì đột phá – Sức mạnh của tư duy.

Trong quá trình nghiên cứu, Carol muốn tìm hiểu về cách con người đối diện với thất bại như thế nào. Bà quyết định quan sát cách những đứa trẻ giải quyết vấn đề khi gặp khó khăn. Carol đến gặp một nhóm học sinh tại một ngôi trường nọ, và yêu cầu các em giải một loạt câu đố.

Những câu đố đầu tiên rất dễ, nhưng mức độ khó ngày càng tăng. Điều ngạc nhiên là khi đứng trước một câu hỏi khó, bọn trẻ không hề bỏ cuộc. Một em học sinh 10 tuổi la to: “I love a challenge (Con thích làm bài khó) !!!”. Một đứa khác thì hào hứng: “Biết vậy con đã đọc đề kĩ hơn”.

Carol vẫn luôn cho rằng con người chỉ có xu hướng hoặc đương đầu, hoặc trốn tránh thất bại. Nhưng bà chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ có ai YÊU THÍCH cảm giác thất bại.

Những đứa trẻ này không hề nản lòng trước thất bại, chúng thậm chí còn không nghĩ rằng mình đã thất bại. Chúng chỉ nghĩ đơn giản mình đang học được điều mới. Thời điểm đó, Carol cho rằng phẩm chất của mỗi người đã được quyết định từ khi họ sinh ra. Bạn thông minh, hoặc là không thông minh. Bạn hay gặp thất bại, nghĩa là bạn không thông minh. Ngược lại, người thông minh sẽ luôn có được thành công và không bao giờ bị thất bại. Những vất vả, sai lầm, hay tính kiên trì, đều không có trong từ điển của những người thông minh.

Thế nhưng, những đứa trẻ kia đã chứng tỏ rằng phẩm chất của con người, như trí thông minh, hoàn toàn có thể thay đổi nhờ vào nỗ lực. Đây không chỉ là cảm giác – mà sự thực là nỗ lực vượt qua thử thách sẽ khiến bộ não của bạn phát triển hơn. Đó cũng chính là điều các em đang làm, phát triển trí não hay nói cách khác, là trở nên thông minh hơn. Vậy, phát hiện này có ý nghĩa thế nào đối với chúng ta?

Nó cho thấy cách chúng ta tư duy sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của mình như thế nào. Có hai loại tư duy: Fixed mindset (Tư duy bảo thủ) và Growth mindset (Tư duy cầu tiến). Nếu bạn tin rằng phẩm chất của mình là thứ được “cha mẹ sinh ra”, khả năng là bạn đang có Tư duy bảo thủ. Bạn tin rằng mỗi người chỉ sở hữu một trí thông minh nhất định, một tính cách nhất định, một nhân phẩm nhất đinh. Mọi điều bạn gặp phải đều là ‘bài kiểm tra” để chứng minh những tính cách này. Và bạn phải gồng mình chứng tỏ sự thông thái của mình hết sức có thể! Đây cũng là lí do tại sao những người có Tư duy bảo thủ thường hay ngại đón nhận thử thách. Họ sợ rằng những sai lầm sẽ “vạch trần” trí thông minh có hạn của mình.

Tư duy cầu tiến thì hoàn toàn ngược lại. Tư duy cầu tiến dựa trên niềm tin rằng phẩm chất của một người hoàn toàn có thể thay đổi nhờ vào nỗ lực. Tư duy cầu tiến không có nghĩa là mỗi người đều có tài năng và phẩm chất như nhau, nhưng nó nhấn mạnh rằng mọi người đều có thể phát triển nếu biết chăm chỉ, kiên trì, và nhận được sự dẫn dắt đúng đắn. Tại sao phải mất thời gian để “tỏ ra thông minh” trong khi chúng ta hoàn toàn có thể trở nên thực sự thông minh hơn.

Hãy lấy ví dụ về một nhân vật cực kì nổi tiếng trong làng thể thao – Michael Jordan. Michael có thể không phải là người giỏi nhất, nhưng là vận động viên chăm chỉ nhất lịch sử thế giới thể thao. Nhiều người có lẽ đã biết câu chuyện Jordan từng bị loại khỏi đội tuyển bóng rổ ở trường khi còn học trung học, anh không được chọn vào đội tuyển khi lên đại học, cũng đã từng bị 2 đội bóng NBA (giải đấu bóng rổ chuyên nghiệp Mỹ) từ chối. Có phải do họ ngu ngốc quá chăng?

Giờ đây Michael đã được biết đến như huyền thoại bóng rổ vĩ đại nhất mọi thời đại. Chúng ta nghĩ rằng tài năng của anh hẳn đã được bộc lộ từ nhỏ. Ai ai cũng biết đến MICHAEL JORDAN. Thế nhưng, cũng đã có lúc MICHAEL JORDAN chỉ là một Michael Jordan mà thôi.

Khi bị loại khỏi đội tuyển trường trung học, Michael vô cùng suy sụp. Mẹ anh bảo “hãy tự kiểm điểm mình đi”. Liệu anh ta có nghe lời không? Thời gian sau đó, Michael thường rời nhà từ lúc 6 giờ sáng để đến trường luyện tập suốt 3 giờ mỗi ngày trước khi giờ học bắt đầu. Michael sở hữu một Tư duy cầu tiến tuyệt vời. Anh ta tin rằng mình có thể thay đổi nhờ luyện tập chăm chỉ, và đó là cách anh trở thành một Jordan mà chúng ta biết đến ngày hôm nay.

Vậy làm thế nào chúng ta có thể khắc sâu Tư duy cầu tiến vào trí óc của mình và của người khác?

Chỉ riêng việc ý thức được có hai loại tư duy khác nhau đã có thể mang lại kết quả hoàn toàn khác biệt. Bên cạnh đó, một điều khác chúng ta có thể làm là biết suy nghĩ thấu đáo hơn mỗi khi khen ngợi người khác. Khi cha mẹ khen ngợi con cái vì sự chăm chỉ, vì lòng kiên định, vì những nỗ lực mà con đã bỏ ra, con sẽ học được cách biết đón nhận thử thách.

Khen ngợi tài năng của trẻ, mặt khác, sẽ làm các em yếu đuối hơn. Khi bạn nói với con: “Con làm bài này nhanh quá, thật ấn tượng”. Con sẽ vô thức nghĩ rằng: “Nếu mình không làm nhanh thì sẽ không khiến bố mẹ ấn tượng nữa.” Hay: “Con thật là thông minh, không ôn tập gì mà vẫn được điểm A.”, các con sẽ nghĩ: “Ồ, vậy nếu mình có ôn tập, bố mẹ sẽ không cho là mình thông minh nữa.

Thay vào đó, mỗi khi bạn muốn khen ngợi con, hãy cố gắng khen ngợi “nỗ lực” thay vì “tài năng”, chẳng hạn: “Bố thích cách con đã cố gắng suy nghĩ nhiều hướng giải quyết khác nhau khi giải bài toán này. Con đã ráng thử nhiều cách và cuối cùng cũng tìm được cách giải đúng.” Mặt khác, khen ngợi trẻ “thông minh” là một trong những sai lầm lớn nhất mà cha mẹ hay mắc phải. Trong một nghiên cứu, người ra phát hiện ra rằng việc ngợi khen một người thông minh có thể làm giảm IQ của người đó!

Bàn về vấn đề này, chúng tôi thường nghe được một câu hỏi rất phổ biến: “Chúng ta có thể có cùng lúc cả hai loại tư duy này không?”. Rất nhiều người có biểu hiện của cả hai loại tư duy. Bạn có thể sẽ có tư duy khác nhau đối với nhiều lĩnh vực khác nhau. Ví dụ như tôi nghĩ rằng tính cách của tôi là cố định, không thể thay đổi được, nhưng trí thông minh của tôi thì có thể phát triển. Hay, kỹ năng xã hội của tôi vốn đã là như thế rồi, nhưng sự sáng tạo của tôi thì là vô hạn.

Tiến sĩ Carol phát hiện rằng, đối với một lĩnh vực, dù bạn có mang tư duy nào, thì lối suy nghĩ đó cũng sẽ đưa bạn về lại đúng lĩnh vực đó. Chúng ta luôn có lựa chọn. Tư duy chẳng qua cũng chỉ là loại niềm tin mà thôi. Cũng như niềm tin có thể thay đổi, chúng ta luôn có thể thay đổi tư duy của mình. Do vậy, hãy cố gắng luôn suy nghĩ theo lối “cầu tiến” bất cứ khi nào bạn đối diện với thử thách, và nhờ vậy, bạn sẽ có thể trở thành một chính mình tốt hơn bạn của ngày hôm qua.

Cảm ơn bạn đã theo dõi. Nếu bạn thích video này, đừng quên bấm “like” và đăng ký (subscribe) để được theo dõi những nội dung tương tự. Đừng quên để lại bình luận hay câu hỏi bên dưới, và đến với Everest Education để khám phá cách chúng tôi áp dụng những phương pháp này trong lớp học như thế nào nhé.

Đạt bao nhiêu điểm SAT là đủ tốt?

Đạt bao nhiêu điểm SAT là đủ tốt?

Nếu em đang phân vân không biết đặt mục tiêu đạt bao nhiêu SAT thì đủ an toàn, hãy yên tâm là em không chỉ có một mình. Đây cũng là một trong những câu hỏi mà chúng tôi nhận được từ rất nhiều em học sinh cũng như các bậc phụ huynh.

Chắc nhiều em cũng đã biết, SAT có thang điểm cao nhất là 1600, thấp nhật là 400. Điểm số SAT trung bình trong năm 2018 vừa qua là 1068. Thế nhưng, bao nhiêu điểm SAT mới là đủ “tốt”? Câu trả lời thực ra rất đơn giản: tuỳ thuộc vào khả năng cũng như mục tiêu của mỗi học sinh nộp đơn vào trường nào.  

Điểm SAT bao nhiêu là đủ “an toàn”? 

Căn cứ vào mức điểm trung bình là 1068, thì những em đạt điểm SAT trên số điểm này đã có thể coi là đủ tốt. Tuy nhiên, một mức điểm “tốt” còn tuỳ thuộc vào từng học sinh, vào trường mà các em dự định nộp hồ sơ. Nhìn chung, trường càng có thứ hạng cao sẽ càng yêu cầu điểm SAT cao. Bên cạnh đó, những yếu tố khác trong hồ sơ du học sẽ ảnh hưởng cách nhìn nhận về điểm SAT của các em. Nếu em đã có điểm trung bình môn (GPA) đủ cao, thì điểm SAT của em dẫu có hơi thấp vẫn đủ sức cạnh tranh. Hội đồng tuyển sinh cũng sẽ nhìn vào thư giới thiệu, hoạt động ngoại khoá, hoàn cảnh gia đình, và dĩ nhiên, bài luận du học, để đánh giá xét tuyển.    

Đối với hầu hết các trường đại học, đạt điểm SAT từ 1300 (khoảng thứ hạng 88 percentile) trở lên sẽ giúp học sinh nâng cao năng lực cạnh tranh của mình khi nộp đơn vàp các trường. Từ 1500 điểm trở nên có thể mở ra cơ hội để em có thể đáp ứng được yêu cầu điểm SAT của gần như hầu hết các trường đại học. Điểm SAT đủ “tốt” là số điểm có thể giúp học sinh có đủ cơ hội cạnh tranh khi nộp đơn vào môt trường bất kì. 

Ví dụ, nếu một học sinh bắt đầu thi SAT vào năm lớp 10, điểm SAT của em bao nhiêu cũng có thể cho là “tốt” bởi nó giúp em xác định được những điểm mạnh cũng như điểm yếm em cần khắc phục. Nhờ vậy, học sinh có thể tập trung khắc phục các điểm yếu này và đạt được số điểm cao hơn ở lần thi tới. Ngược lại, nếu em đã học lớp 12 và sẽ sử dụng số điểm thi đó để nộp đơn vào các trường, vậy điểm SAT “tốt” còn tuỳ thuộc vào việc em nộp đơn vào trường  nào, và những yếu tố khác trong bộ hồ sơ của em đã đủ tốt hay chưa.   

Xem xét điểm SAT dưới nhiều góc độ 

Bảng dưới đây thống kê mức điểm Percentile SAT và ACT hạng 25 và 75 của các trường nhóm Ivy League, MIT và Stanford:

Nếu học sinh đạt điểm Percentile thấp hơn 25 ở kỳ thi SAT hay ACT, sẽ rất khó để em có thể nộp đơn và các trường thuộc nhóm Ivy League. Nhìn chung, học sinh thi vào các trường này đều có điểm số cao ngất ngưởng và vì vậy, họ đề ra tiêu chuẩn cực kỳ cao. Trên thực tế, thứ hạng phần trăm ở mức 75 ở các trường thuộc nhóm Ivy tương đương với mức điểm percentile là 99 so với cả nước Mỹ. Cũng có nghĩa là, để có cơ hội cạnh tranh khi nộp đơn vào Ivy League, học sinh cần phải đạt được mức điểm rơi vào top 1% toàn thí sinh trong cùng kỳ thi.

Điểm SAT/ACT từ các trường Ivy có thể dùng như một tiêu chuẩn để đánh giá, tuy nhiên, mỗi học sinh sẽ có một mục tiêu khác nhau. Điều quan trọng là học sinh cần phải xác định được điểm SAT/ ACT mục tiêu của em là gì. Vậy làm thế nào để xác định đúng?

Điểm thi SAT/ ACT mục tiêu được xác định dựa vào trường mà học sinh muốn nộp đơn vào. Học sinh nên tìm hiểu xem điểm SAT/ ACT trung bình của học sinh đã được nhận vào các trường mà em đang có ý định đăng ký rơi vào khoảng bao nhiêu, đặc biệt là điểm percentile từ 75 của các học sinh này. Lấy mức thứ hạng từ 75 làm mục tiêu phấn đấu sẽ cho phép các em có cơ hội được nhận vào trường cao hơn.

5 bước xác định số điểm SAT mục tiêu

Đối với hầu hết các em học sinh, đạt được điểm số SAT cao thực ra là điều hoàn toàn có thể, nếu các em có sự chuẩn bị hợp lý, chiến lược ôn thi đúng đắn cũng như kinh nghiệm làm bài thi.

Dưới đâu là 5 bước đơn giản giúp học sinh xác định điểm số SAT mục tiêu chính xác nhất (hay ít nhất là xác định số điểm đủ để em vào được trường đại học em mong muốn)

Tóm lại, mức điểm SAT tốt là mức điểm đủ cao để làm hồ sơ của em nổi bật đối với trường mà em đang có ý định nộp hồ sơ. Do vậy, hãy nghiên cứu xác định số điểm SAT “an toàn” mà em cần nhắm tới, và làm các bài thi thử để thấy được mình còn phải cố gắng bao nhiêu. Dù hội đồng tuyển sinh còn nhìn vào các yếu tổ khác khi xét tuyển, thì điểm số các kì thi chuẩn hoá như SAT vẫn chiếm phần quan trọng to lớn. Hãy nhớ rằng, điểm càng cao, nghĩa là các em có càng nhiều cơ hội.

     TẢI VỀ CẨM NANG MIỄN PHÍ –

“MỌI ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ KÌ THI SAT             

Cẩm nang học tập sẽ mang lại cho em mọi kiến thức cần biết về kì thi SAT, cách xác định đúng số điểm mục tiêu để tự tin nộp hồ sơ du học,
cũng như cho các em định hướng xây dựng kết hoạch tự luyện thi
SAT hiệu quả.

      Nhanh tay đăng ký để nhận trọn bộ cẩm nang và tự tin chinh phục số  để đạt số điểm SAT em mơ ước 💯 

SAT Percentiles thực chất là gì?

SAT Percentiles thực chất là gì?

Bên cạnh điểm SAT, các nhà tuyển sinh đại học còn chú trọng đến thứ hạng SAT Percentiles. Do vậy, hiểu rõ SAT percentiles là gì là một trong những bước quan trọng để có thể lên kế hoạch ôn tập phù hợp. Vậy, em đã thực sự hiểu rõ về khái niệm SAT percentiles chưa?

Bài viết dưới đây sẽ tập trung phân tích về SAT percentiles nhằm giúp phụ huynh và các em học sinh hết bỡ ngỡ trước khái niệm này. Hy vọng thông qua đây, các em có thể hiểu rõ về khái niệm SAT percentiles, tầm quan trọng của nó đối với các trường đại học cũng như có thể căn cứ vào đó xác định số điểm SAT mục tiêu cần hướng tới.

Thứ hạng phần trăm (SAT Score Percentile) là gì?

Bên cạnh thang điểm SAT (số điểm nằm trong khoảng từ 400 đến 1600), thí sinh còn được xếp hạng dựa trên thứ hạng phần trăm, bắt đầu từ 1 đến 99. Thứ hạng phần trăm được đánh giá dựa trên điểm tổng của học sinh, cũng như mức điểm cho hai phần chính: điểm Đọc Viết (Evidence-Based Reading and Writing) và điểm Toán (Math).

Thứ hạng phần trăm sẽ so sánh kết quả bài thi SAT của thí sinh so với các thí sinh khác trong cùng kì thi.   

Thứ hạng phần trăm không phải là phần trăm số câu hỏi trả lời đúng. Tức là, nếu học sinh đạt được hạng 90 percentile, điều này không có nghĩa là em trả lời đúng 90% câu hỏi. Nó chỉ mang nghĩa rằng em có điểm số cao hơn 90% thí sinh cùng kỳ thi đó.

Vì sao thứ hạng phần trăm (Percentiles) lại quan trọng?

Thứ hạng phần trăm là cơ sở để:

Các trường Đại học sử dụng mức điểm Percentile để đánh giá khả năng của học sinh so với các bạn. Đạt được hạng 90 percentile sẽ giúp học sinh nâng cao cơ hội cạnh tranh của mình, bởi điều đó cũng đồng nghĩa em có mức điểm cao hơn 90% tất cả các thí sinh trong cùng kỳ thi.

Học sinh nên chú ý đến thứ hạng phần trăm, cũng như điểm tổng hợp từng phần, nhằm hiểu rõ và so sánh được kết quả bài thi của em so với các thí sinh khác, giúp em có thể đưa ra lựa chọn khôn ngoan hơn khi chọn trường để nộp đơn.

SAT Percentiles phân bố như thế nào?

Đến đây, chắc các em đã hiểu được điểm SAT Percentiles rất quan trọng. Thế nhưng, nếu em chưa từng thi qua SAT, hoặc đã từng và đang có ý định thi thêm lần nữa, các em nên đặt mục tiêu được bao nhiêu điểm để có được thứ hạng phần trăm cao?

Để giúp học sinh hiểu rõ hơn về cách phân bố điểm, College Board đã công bố bảng thống kê tổng điểm và mức Percentile tương ứng.  Những con số này sẽ có sự thay đổi nhỏ qua từng năm, bảng dưới đây được cập nhật gần nhất vào năm 2018. Học sinh có thể tham khảo và thử ước lượng mức Percentile của mình.

Xét cho cùng, để có được thứ hạng SAT percentiles hoàn toàn tuỳ thuộc vào số điểm SAT tổng của học sinh cao đến mức nào. Vì vậy, thay vì mất thời gian lo lắng xem điểm của em rơi vào mức percentiles bao nhiêu, hãy cố gắng tập trung thời gian và công sức ôn tập và lên chiến lược luyện thi SAT hiệu quả để có thể tối đa hoá điểm số của mình, giành lấy số điểm càng cao càng tốt. Học tập chăm chỉ, tham gia các khoá luyện thi SAT nếu cần thiết, và đừng quên kiến thức là chìa khoá quan trọng nhất. Hãy tham khảo thứ hạng Percentiles các năm của trường mà em nhắm tới để xác định điểm số mục tiêu của mình, và  thử làm các bài thi thử để xác định xem em còn phải cố gắng bao nhiêu. 

 TẢI VỀ CẨM NANG MIỄN PHÍ –

“MỌI ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ KÌ THI SAT

      Cẩm nang học tập sẽ mang lại cho em mọi kiến thức cần biết về kì thi SAT,
cách xác định đúng số điểm mục tiêu để tự tin nộp hồ sơ du học,
cũng như cho các em định hướng xây dựng kết hoạch tự luyện thi
SAT hiệu quả.

      Nhanh tay đăng ký để nhận trọn bộ cẩm nang và tự tin
chinh phục số để đạt số điểm SAT em mơ ước 💯